Tiến sỹ Giáp Văn Dương, Đại học Liverpool/NUS, Singapore

Discussion in 'Những người đi trước' started by dinhcongbang, Oct 28, 2009.

  1. dinhcongbang

    dinhcongbang Bạn của mọi người

    Không ai dạy tôi ước mơ
    26/10/2009 03:38:15

    [​IMG]

    (SVVN)TS Giáp Văn Dương (Khoa Hoá, Đại học Liverpool) là cái tên khiến cho nhiều sinh viên người Việt đang theo học ở Anh luôn cảm thấy tự hào.

    TRƯỞNG THÀNH TỪ… KHÔNG ƯỚC MƠ

    Anh có thể mô tả qua công việc của mình?

    Tôi nghiên cứu các loại vật liệu mới, như các hạt nano từ nhằm ứng dụng cho lĩnh vực y-sinh học, hoặc các loại vật liệu mới đa chức năng, có thể thay thế những vật liệu cũ đắt đỏ, độc hại hoặc đơn giản là để hiểu thêm một tính chất mới.

    Ước mơ lớn nhất của anh hồi nhỏ là gì?

    Thật xấu hổ khi phải nói là hồi nhỏ tôi không có ước mơ. Tôi sinh ra và lớn lên ở nông thôn, nơi đó mọi người thường chỉ chăm chú làm việc đồng áng, mùa vụ từ sáng sớm đến tối mịt mà quên mất những ước mơ. Tôi cũng vậy, như cây lúa, đến ngày đến tháng thì làm đòng, trổ bông. Hết phổ thông, tôi vào đại học.

    Vậy động lực nào để một thanh niên nông thôn vượt từ tư duy "lũy tre làng" sang "tư duy toàn cầu"?

    Thực sự, ban đầu là do mình tò mò. Tò mò muốn biết thế giới bên ngoài Việt Nam họ sống và làm việc thế nào. Sau đó là do nhu cầu, tôi nghĩ mình cần phải thay đổi từ tư duy Việt Nam, không phải là tư duy sau lũy tre làng, sang tư duy toàn cầu.

    Muốn thành công, ít nhất cũng phải ngang bằng ở mức độ tư duy so với bên ngoài. Nếu thua ở ngay khâu tư duy, khâu lên kế hoạch, thì thất bại là chắc chắn.

    Từ khi nào anh nghĩ đến chuyện đến làm việc ở một trường đại học quốc tế như Đại học Liverpool?

    Từ năm 2006, sau khi tôi bảo vệ luận án tiến sĩ tại Đại học Công nghệ Vienna (Áo). Tôi muốn hoàn thiện thêm kỹ năng nghiên cứu, và muốn xem nghiên cứu trong các trường đại học Anh khác với các nước khác, cụ thể là Việt Nam, Hàn Quốc và Áo (những nơi tôi đã theo học và làm việc) như thế nào.

    Tôi cũng muốn trực tiếp tìm hiểu thêm hệ thống giáo dục Anh, vì thời gian đào tạo ngắn, nhưng vẫn đảm bảo chất lượng, và thu hút một lượng sinh viên quốc tế khổng lồ đến du học. Tôi quan tâm đến giáo dục, nên muốn tìm hiểu và trực tiếp trải nghiệm nhiều nền giáo dục khác.

    Tại sao hồi sinh viên anh lại chọn và theo đuổi ngành Hóa học?

    Tôi chọn ngành Hóa dầu của Bách khoa vì ngày đó cả nước đang hồ hởi với dự án xây dựng nhà máy lọc dầu Dung Quất. Nhưng do việc xây dựng chậm tiến độ, nhà máy hoàn thành sau khi tôi ra trường được mười năm.

    Ngần đó thời gian đủ để đưa tôi sang học và làm việc ở những ngành khác như Vật lý, Công nghệ nano, nên hiện giờ, tôi làm lĩnh vực liên ngành, chứ không chỉ thuần túy là Hóa học.

    Theo anh, sự chọn ngành nghề thời đại học có ảnh hưởng đến sự thành đạt của một người không?

    Ban đầu thì có, nhưng càng về sau sự ảnh hưởng càng ít. Người ta sẽ dần dần trở về với điều mình thực sự đam mê. Sự thành công suy cho cùng là kết quả của một sự phấn đấu lâu dài chứ không phải là sự lựa chọn một vài bước đi ban đầu nào đó.

    Nếu đi sai những bước ban đầu, hãy dũng cảm rẽ sang đường khác, con đường mà mình mong muốn, càng sớm càng tốt.

    Như anh nói ở trên, hồi nhỏ anh không có ước mơ. Vậy điều gì là quan trọng nhất để một người trẻ (như anh) có thể thành công?

    Đó là phải có một nền tảng văn hóa tốt, sáng tạo, giao tiếp hiệu quả và bước đi không ngừng. Nền tảng văn hóa tốt, bao gồm cả nền tảng giáo dục, làm cho mình cảm thấy tự tin, vững vàng ở tất cả mọi nơi.

    Sáng tạo là con đường đi đến thành công trong sự cạnh tranh gay gắt hiện nay. Còn giao tiếp hiệu quả và bước đi không ngừng giúp cho những kế hoạch và dự định trở thành hiện thực.

    Ngoài chuyên môn, anh còn quan tâm đến lĩnh vực nào?

    Giáo dục, văn hóa và chủ quyền biển đảo của Việt Nam. Vì tôi cho rằng, nâng cao chất lượng giáo dục là con đường duy nhất để Việt Nam có thể phát triển nhanh và bền vững.

    Giữ vững bản sắc văn hóa là cách duy nhất để giữ cho dân tộc trường tồn, không bị đồng hóa, nhất là trong thời đại toàn cầu hóa và Internet, sự xâm thực của văn hóa lạ, văn hóa ngoại lai đang trở nên báo động, đe dọa nghiêm trọng văn hóa Việt.

    Còn chủ quyền biển đảo là thiêng liêng ngàn đời của cha ông truyền lại, cần phải gìn giữ.

    ĐIỀU QUAN TRỌNG ĐỂ THÀNH CÔNG

    Anh có kinh nghiệm gì chia sẻ với các bạn sinh viên trẻ?

    Hãy chọn một thứ mình thực sự đam mê, có thể chìm đắm với nó, kiên nhẫn với nó, hiểu nó thật kỹ và tìm cách đi qua những giới hạn mà người khác đã đạt được bằng sự sáng tạo và cần mẫn của chính mình.

    Triết lý sống mà anh đang theo đuổi là...?

    Đơn giản, hoàn hảo và đẹp ở mức cao nhất có thể. Đơn giản làm cho cuộc sống dễ chịu hơn. Ước vọng hoàn hảo làm cho người ta phải phấn đấu. Còn đẹp làm cho người ta thấy yêu và nhân ái với cuộc sống này hơn.

    [​IMG]

    Nếu có một ước muốn trở thành sự thật, anh sẽ chọn điều nào trong những điều sau:

    A) Đoạt giải Nobel Hóa học 2015.

    B) Nhận một lời mời hấp dẫn từ Bộ GD&ĐT Việt Nam đảm trách một cương vị rất quan trọng.

    C) Một giảng viên bình thường ở một trường đại học ở Việt Nam, nhưng chế độ đãi ngộ xứng đáng.

    D) Một doanh nhân giàu có số 1 châu Á.

    Tôi không chọn điều nào cả, bởi tất cả những điều đó đều là những thứ viển vông. Hồi nhỏ, tôi không có ước mơ vì không ai dạy tôi ước mơ. Giờ thì tôi biết, nên ước mơ những điều có thể thực hiện được. Vì nếu không, sẽ phí hoài thời gian và năng lượng vào những mơ ước viển vông.

    Nobel vào năm 2015 là một điều không tưởng với bất cứ người Việt Nam nào. Việt Nam cần hàng chục năm, thậm chí lâu hơn nữa, để có thể chạm tay vào giải Nobel.

    Một lời mời hấp dẫn từ Bộ GD& ĐT hoặc một giảng viên bình thường nhưng chế độ đãi ngộ xứng đáng chắc chắn cũng không xảy đến trong hoàn cảnh hiện nay.

    Còn doanh nhân số 1 châu Á, điều này hấp dẫn, nhưng tôi không có ý định theo đuổi con đường kinh doanh, nên nó nằm ngoài dự định của tôi.

    Vậy nếu được chọn một điều gì đó, anh sẽ...?

    Có thật nhiều bạn trẻ tham gia vào dự án Tri Thức Mở mà tôi sáng lập: biên dịch tài liệu các khóa học của các trường đại học hàng đầu thế giới ra tiếng Việt. Hiện tại, chúng tôi đang rất thiếu người. Hãy tham gia và chung tay cùng chúng tôi.

    Điều gì khiến anh tồn tại và khẳng định bản thân?

    Một nền tảng kiến thức rộng và một chuyên môn sâu. Ý tưởng mới và sự chăm chỉ đóng vai trò quyết định. Hợp tác hiệu quả với đồng nghiệp, bạn bè cũng rất quan trọng.

    Theo cảm nhận của anh, điều gì đáng lo ngại nhất cho thế hệ trẻ hiện giờ?

    Chông chênh, đôi khi nhầm lẫn giữa các thang giá trị. Sống chậm và sống vội cùng một lúc. Thích a dua, theo đuổi những thứ phù phiếm. Đến khi ra trường vẫn chưa định hình nổi một tính cách, một khuôn mặt. Rất đáng buồn và chẳng hay ho gì khi nói ra điều đó!

    Anh làm gì vào thời gian rảnh rỗi?

    Thăm bảo tàng, tụ tập bạn bè, uống trà Việt, đọc sách, chơi với con… Nếu có thời gian dài hơn thì đi du lịch và thăm bạn ở những thành phố khác.

    Anh có dự định gì trong tương lai gần?

    Biên dịch các khóa học ra tiếng Việt và viết bài, tài liệu về một số chủ đề mà tôi yêu thích. Làm một số việc mà tôi cho rằng có ích cho Việt Nam.

    Và có ý định anh sẽ về Việt Nam không?

    Những việc tôi làm sẽ dẫn tôi trở lại Việt Nam. Khi tôi thấy có công việc phù hợp, có thể phát huy đuợc khả năng của mình. Cũng có thể, tôi sẽ trở về khi cảm thấy đã đến lúc phải trở về, vì như đã nói ngay từ đầu, tôi là một người thuần Việt, nên dù đi đâu cũng vẫn hướng về Việt Nam.

    Cảm ơn anh!

    LÊ NGỌC SƠN (Thực hiện)

    Source: Không ai dạy tôi ước mơ - Khong ai day toi uoc mo - SVVN ONline - sinh vien viet nam online


    =====

    TS Giáp Văn Dương (Blog Giáp Văn)
    Khoa Hóa học, Đại học Liverpool.
    Sinh năm 1976 tại Bắc Giang.
    Tốt nghiệp kỹ sư ngành Hóa dầu Đại học Bách khoa Hà Nội năm 1999, tốt nghiệp Thạc sĩ ngành Công nghệ Hóa học ĐH Quốc gia Chonbuk (Hàn Quốc) năm 2002, tốt nghiệp Tiến sĩ ngành Vật lý kỹ thuật ĐH Công nghệ Vienna (Áo) năm 2006. Hiện làm việc tại ĐH Liverpool (Anh).
     
    nvt088 likes this.
  2. dinhcongbang

    dinhcongbang Bạn của mọi người

    Giáp Văn Dương: Hạ tầng tư duy và phát triển đất nước

    (TuanVietNam) - Muốn phát triển đất nước, phải xây dựng được một hạ tầng tư duy vững chắc, phong phú và thông thoáng. Tư duy cần được, và phải được, giải phóng một cách triệt để.

    Chúng ta đã nghe nói nhiều đến tầm quan trọng của cơ sở hạ tầng kinh tế, nhưng chưa nghe nói đến tầm quan trọng của hạ tầng tư duy. Vì thế, bài này đưa ra một khái niệm mới: hạ tầng tư duy, và bước đầu thảo luận vai trò của nó với công cuộc phát triển đất nước.

    Hạ tầng tư duy là gì?

    Hạ tầng tư duy là toàn bộ những gì góp phần khai mở, hỗ trợ, giải phóng và phát huy khả năng tư duy của cá nhân và cộng đồng. Cấu trúc của hạ tầng tư duy gồm sáu yếu tố chính: Thành tựu tư tưởng của nhân loại (TTNL); Hệ tư tưởng, quan điểm sử dụng hiện thời (HTT-QĐ); Cơ chế pháp lý hỗ trợ (CCPL); Thói quen, kĩ năng tư duy cá nhân (TQ-KN); Văn hóa, môi trường làm việc (VH-MT); Liên thông, trao đổi tư tưởng (LT-TĐ).

    [​IMG]

    Cấu trúc của hạ tầng tư duy

    Mỗi yếu tố có vai trò khác nhau, nhưng có quan hệ chặt chẽ với nhau, có tác dụng hỗ trợ lẫn nhau trong việc hình thành hạ tầng tư duy của đất nước. Cái này hoặc làm nền, hoặc là sản phẩm gián tiếp của cái kia, hoặc thúc đẩy hỗ trợ cho cái kia hình thành và phát triển. Cụ thể:

    Thành tựu tư tưởng nhân loại tạo nền tảng và khung tư duy chung cho mọi cá nhân tiếp cận và sử dụng nó, không phân biệt địa lý, sắc tộc. Một đất nước tiếp thu được càng nhiều thành tựu tư tưởng của nhân loại thì hạ tầng tư duy của đất nước đó càng phong phú, vững chắc.

    Hệ tư tưởng, quan điểm sử dụng hiện thời chi phối và quyết định việc hình thành các khung mẫu tư duy hiện thời của một đất nước, được hình thành thông qua do sự lựa chọn của quốc gia đó từ kho tàng tư tưởng nhân loại dưới sự chi phối của các đặc điểm lịch sử, kinh tế, văn hóa, địa lý cụ thể. Như vậy, hạ tầng tư duy của một đất nước phụ thuộc rất nhiều vào sự lựa chọn đúng hay sai, nếu đúng thì đã tối ưu chưa. Nếu đã tối ưu thì có cần điều chỉnh theo thời gian, khi các đặc điểm lịch sử, văn hóa, kinh tế cụ thể đã thay đổi.

    Cơ chế pháp lý hỗ trợ có vai trò thúc đẩy việc và phát huy khả năng tư duy của cộng đồng, thông qua việc khuyến khích, hỗ trợ các nhân, tập thể trong việc khám phá, truyền bá, tiếp thu và sáng tạo tri thức (ví dụ các cơ chế khuyến học, hỗ trợ sinh viên, các giải thưởng... ), đồng thời bảo vệ quyền lợi của những cá nhân có các sản phẩm tư duy có giá trị (ví dụ luật bản quyền).

    Thói quen, kĩ năng tư duy cá nhân quyết định việc các nhân đó có tư duy hiệu quả hay không, thông qua đó ảnh hưởng trực tiếp đến hạ tầng tư duy của đất nước. Vì suy cho cùng, mọi thành tựu tư duy của cộng đồng đều là sản phẩm tư duy của các cá nhân. Tuy nhiên, thói quen và kĩ năng tư duy tốt như tư duy sáng tạo, tư duy phê phán, tư duy hệ thống không phải tự trên trời rơi xuống, mà hình thành trong quá trình đào tạo và rèn luyện không ngừng của mỗi cá nhân.

    Văn hóa, môi trường làm việc ảnh hưởng trực tiếp đến thói quen và hiệu quả làm việc của cá nhân, qua đó cũng ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình thành và phát triển của hạ tầng tư duy. Nếu văn hóa và môi trường làm việc cởi mở, lành mạnh, tôn trọng sự khác biệt thì hạ tầng tư duy phong phú, đa dạng và linh hoạt. Ngược lại, sẽ chỉ là sự nghèo nàn, xập xệ và cứng nhắc một chiều.

    Liên thông, trao đổi tư tưởng làm cho hạ tầng tư duy được kết thành hệ thống vững vàng, biểu hiện dưới dạng một mạng lưới liên thông hữu cơ mà qua đó, tư tưởng được tự do lưu thông. Nếu không có liên thông, trao đổi tư tưởng, thì sản phẩm tư duy của mỗi cá nhân chỉ có tác động đến đời sống của cá nhân cụ thể đó, như một ngưới có trí tuệ nhưng sống giữa đảo hoang, mà không có tác động nào đáng kể đến hạ tầng tư duy và sự phát triển của đất nước mà cá nhân đó đang sinh sống.

    Vai trò của hạ tầng tư duy

    Nếu một người chỉ được coi là trưởng thành khi có thể suy nghĩ độc lập thì một đất nước cũng vậy. Đất nước chỉ trưởng thành khi có tư duy độc lập, phong phú và sáng tạo. Muốn vậy, phải có một hạ tầng tư duy vững chắc, lành mạnh, cởi mở và thông thoáng làm nền tảng.

    Chính việc thiếu hạ tầng tư duy vững chắc đã đẻ ra những kiểu tư duy kì quặc trong mọi lĩnh vực của đời sống, ở mọi cấp độ. Lãnh đạo thì có tư duy nhiệm kì, tư duy đối phó, tư duy bằng cấp, thiên về hình thức và giải quyết những tình huống cụ thể mà thiếu tư duy chiến lược, tư duy tổng thể dài hạn. Trí thức, văn nghệ sĩ thì thiếu tư duy độc lập, tư duy phê phán và phản biện nên không thể vượt lên hướng dẫn sự phát triển của xã hội.

    Ở trường thì thầy đọc trò chép mà không cần phải nghi ngờ những điều đọc chép đó đúng hay sai, có cẩn sửa chữa, bổ sung hay cải tiến gì không, nên sản phẩm là những cử nhân, kĩ sư luôn cần “cầm tay chỉ việc”, phải đào tạo lại vì không đáp ứng được đòi hỏi của thị trường lao động. Ở nhà, người trên áp đặt người dưới và các thế hệ không biết cách đối thoại, tạo ra những xung đột, căng thẳng không đáng có.

    Tất cả những điều này, kéo dài từ năm này qua năm khác, thế hệ này qua thế hệ khác, làm cho hạ tầng tư duy của dân tộc vốn đã manh mún, nghèo nàn và xập xệ lại ngày càng trở nên manh mún, nghèo nàn và xập xệ hơn. Kết quả là chúng ta luôn phụ thuộc vào tư duy của bên ngoài, theo cả không gian lẫn thời gian, có khi lùi lại đến hàng trăm năm và cách xa nửa vòng trái đất, dẫn đến việc không tạo ra được những thành tựu kinh tế, khoa học, nghệ thuật và tư tưởng gì đáng kể trong tương quan so sánh với thế giới bên ngoài.

    Có một điều gần như được thừa nhận hiển nhiên: muốn phát triển kinh tế, phải có cơ sở hạ tầng kinh tế như đường xá, cầu cống, hệ thống thông tin, điện, nước... tốt. Cơ sở hạ tầng kinh tế càng tốt thì nền kinh tế sẽ phát triển càng nhanh. Mở rộng điều này sang mục tiêu phát triển đất nước như một tổng thể thì thấy: muốn phát triển đất nước, phải có hạ tầng tư duy tốt.

    Hạ tầng tư duy tốt sẽ tạo ra những chính sách tốt và kịp thời điểu chỉnh các chính sách đó sao cho phù hợp trước những biến động của thời cuộc. Chính sách càng tốt, sự điều chỉnh chính sách càng kịp thời và thích hợp thì đất nước sẽ phát triển càng nhanh và vững chắc.

    Không chỉ có ích cho việc ra chính sách và điều chỉnh chính sách của lãnh đạo, hạ tầng tư duy tốt còn tạo ra các thế hệ công dân có năng lực tư duy độc lập và sáng tạo, tạo điều kiện cho việc triển khai các chính sách tốt được thành công và thúc đẩy việc đề xuất các sáng kiến và chính sách mới.

    Nếu hạ tầng tư duy manh mún, nghèo nàn và xập xệ, đất nước sẽ chỉ mãi quẩn quanh trong vòng nghèo hèn và lạc hậu. Xã hội khi đó sẽ chỉ là tập hợp của những đứa trẻ to xác. Đất nước sẽ mãi chỉ là đất nước vị thành niên.

    Vậy thì tồn tại và phát triển làm sao trong cơn lốc toàn cầu hóa mà ở đó, sự cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt và gia tốc không ngừng?

    Nếu trong các nền kinh tế nông nghiệp và công nghiệp cổ truyền, sự lặp đi lặp lại của một qui trình hoặc một khung mẫu tư duy là có thể bao biện được, thì trong nền kinh tế tri thức, nhưng gì đông cứng, khép kín sẽ là dấu hiệu của sự chết. Còn sự sáng tạo và thích ứng liên tục sẽ là biểu hiện và tiêu chuẩn của sự phát triển.

    Tri thức là sản phẩm của tư duy, nên trong nền kinh tế tri thức, hạ tầng tư duy đóng vai trò quyết định trong việc tạo ra những tri thức có giá trị. Thiếu hạ tầng tư duy, đất nước sẽ không chỉ quẩn quanh trong nghèo hèn và lạc hậu như trong các nền kinh tế nông nghiệp và công nghiệp cổ truyền, mà sớm hay muộn cũng sẽ khị tiêu diệt. Vì không có lý do gì cho anh tồn tại khi anh không có năng lực tư duy thích đáng trong một hình thái kinh tế mới mà ở đó tư duy phong phú và sáng tạo đóng vai trò quyết định sống còn.

    Để tránh thảm họa đó, cần thiết hơn bao giờ hết, phải xây dựng được một hạ tầng tư duy đa dạng, vững chắc và thông thoáng về mọi mặt của đời sống cho đất nước. Trong quá khứ, chúng ta đã có những lúc, những nơi, những cá nhân làm được một phần việc này: tạo được một vài sản phẩm tư duy được thế giới thừa nhận, thể hiện hùng hồn qua công cuộc bảo vệ đất nước trước những thế lực ngoại xâm lớn hơn mình nhiều lần. Vậy thì không có lý do gì, trong hiện tại và tương lai, chúng ta không làm được như vậy.

    Vấn đề là chúng ta muốn làm, và dám làm hay không?

    ________________________________

    Tác giả: TS Giáp Văn Dương, tốt nghiệp kĩ sư Đại học Bách khoa Hà Nội ngành Hóa Dầu năm 1999, Thạc sĩ Đại học Quốc gia Chonbuk (Hàn Quốc) ngành Công nghệ Hóa học năm 2002, Tiến sĩ Đại học Công nghệ Vienna ngành Vật lý kĩ thuật (PhD) năm 2006. Hiện làm việc tại Đại học Liverpool, Anh.

    Source: Phần I: Hạ tầng tư duy và phát triển đất nước | Dân Luận
     
  3. dinhcongbang

    dinhcongbang Bạn của mọi người

    Giáp Văn Dương: Minh triết và Hạ tầng tư duy

    Minh triết và Hạ tầng tư duy
    Giáp Văn Dương

    Muốn phát triển, phải xây dựng được một hạ tầng tư duy vững chắc, phong phú và thông thoáng, để từ đó, tạo ra những sản phẩm tư duy có giá trị. Minh triết, với vai trò như một phông nền văn hóa, có mặt trong nhiều thành phần trong cấu trúc của hạ tầng tư duy. Vì thế, việc tìm hiểu mối quan hệ giữa minh triết và hạ tầng tư duy có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng và hoàn thiện hạ tầng tư duy, tạo điều kiện cho việc giải phóng tư duy, hình thành những tư tưởng mới, sáng tạo và có giá trị cho đất nước.

    Hạ tầng tư duy

    Hạ tầng tư duy là một khái niệm mới, được đề cập lần đầu trong hai bài báo đăng trên Tuần Việt Nam ngày 10 và 11 tháng 8 năm 2009, theo đó, tác giả định nghĩa rằng: “Hạ tầng tư duy là toàn bộ những gì góp phần khai mở, hỗ trợ, giải phóng và phát huy khả năng tư duy của cá nhân và cộng đồng. Cấu trúc của hạ tầng tư duy gồm sáu yếu tố chính: Thành tựu tư tưởng của nhân loại (TTNL); Hệ tư tưởng, quan điểm sử dụng hiện thời (HTT-QĐ); Cơ chế pháp lý hỗ trợ (CCPL); Thói quen, kĩ năng tư duy cá nhân (TQ-KN);Văn hóa, môi trường làm việc (VH-MT); Liên thông, trao đổi tư tưởng (LT-TĐ)” 1,2.

    Trong sáu yếu tố tạo thành hạ tầng tư duy, mỗi yếu tố có vai trò khác nhau, nhưng có quan hệ chặt chẽ với nhau, có tác dụng hỗ trợ lẫn nhau trong việc hình thành hạ tầng tư duy. Cái này hoặc làm nền, hoặc là sản phẩm gián tiếp của cái kia, hoặc thúc đẩy hỗ trợ cho cái kia hình thành và phát triển. Cụ thể:

    Thành tựu tư tưởng nhân loại tạo nền tảng và khung tư duy chung cho mọi cá nhân tiếp cận và sử dụng nó, không phân biệt địa lý, sắc tộc. Một cá nhân hoặc dân tộc tiếp thu được càng nhiều thành tựu tư tưởng của nhân loại thì hạ tầng tư duy của cá nhân hoặc dân tộc đó càng phong phú, vững chắc.

    Hệ tư tưởng, quan điểm sử dụng hiện thời chi phối và quyết định việc hình thành các khung mẫu tư duy hiện thời của một cá nhân hoặc một dân tộc, được hình thành thông qua sự lựa chọn của cá nhân hoặc dân tộc đó từ kho tàng tư tưởng nhân loại dưới sự chi phối của các đặc điểm lịch sử, cụ thể.

    Cơ chế pháp lý hỗ trợ có vai trò thúc đẩy việc và phát huy khả năng tư duy của cá nhân và cộng đồng, thông qua việc khuyến khích, hỗ trợ cá nhân, tập thể trong việc khám phá, truyền bá, tiếp thu và sáng tạo tri thức (ví dụ các cơ chế khuyến học, các giải thưởng, v.v), đồng thời bảo vệ quyền lợi của những cá nhân có các sản phẩm tư duy có giá trị (ví dụ luật bản quyền).

    Thói quen, kĩ năng tư duy cá nhân quyết định việc các nhân đó có tư duy hiệu quả hay không, thông qua đó ảnh hưởng trực tiếp đến hạ tầng tư duy của xã hội như một tổng thể.

    Văn hóa, môi trường làm việc ảnh hưởng trực tiếp đến thói quen và hiệu quả làm việc của cá nhân và cộng đồng. Nếu văn hóa và môi trường làm việc cởi mở, lành mạnh, tôn trọng sự khác biệt thì hạ tầng tư duy phong phú, đa dạng và linh hoạt. Ngược lại, sẽ chỉ là sự nghèo nàn, xập xệ và cứng nhắc một chiều.

    Liên thông, trao đổi tư tưởng – tự do học thuật - làm cho hạ tầng tư duy của các cá nhân và do đó của toàn xã hội được kết thành hệ thống vững chắc, biểu hiện dưới dạng một mạng lưới liên thông hữu cơ mà qua đó, tư tưởng được tự do lưu thông và tương tác với nhau. Nếu không có liên thông, trao đổi tư tưởng, thì sản phẩm tư duy của mỗi cá nhân chỉ có tác động đến đời sống của cá nhân cụ thể đó, như một ngưới có trí tuệ nhưng sống giữa đảo hoang, mà không có tác động nào đáng kể đến hạ tầng tư duy và sự phát triển của xã hội mà cá nhân đó đang sinh sống.

    Nếu một người chỉ được coi là trưởng thành khi có thể suy nghĩ độc lập thì một đất nước cũng vậy. Đất nước chỉ trưởng thành khi có tư duy độc lập, phong phú và sáng tạo. Muốn vậy, phải có một hạ tầng tư duy vững chắc, lành mạnh, cởi mở và thông thoáng làm nền tảng.

    Nếu hạ tầng tư duy manh mún, nghèo nàn và xập xệ, đất nước sẽ chỉ mãi quẩn quanh trong vòng nghèo hèn và lạc hậu. Xã hội khi đó sẽ chỉ là tập hợp của những đứa trẻ to xác. Đất nước sẽ mãi chỉ là đất nước vị thành niên.

    Biểu hiện rõ nhất của tình trạng vị thành niên này là cả xã hội sự phụ thuộc và chạy theo tư duy, ý thức hệ hoặc cách hành xử của bên ngoài và sự ra đời của những kiểu tư duy kì quặc trong mọi mặt của đời sống xã hội, ở mọi cấp độ, như tư duy nhiệm kì, tư duy đối phó, tư duy bằng cấp... mà thiếu đi những kiểu tư duy lành mạnh, như tư duy sáng tạo, tư duy độc lập, tư duy hệ thống, tư duy phê phán...

    Minh triết và hạ tầng tư duy

    Nhìn vào cấu trúc của hạ tầng tư duy thì thấy, minh triết có mặt chủ yếu trong ba thành phần: Hệ tư tưởng, quan điểm sử dụng hiện thời (HTT-QĐ; Thói quen, kĩ năng tư duy cá nhân (TQ-KN);Văn hóa, môi trường làm việc (VH-MT). Minh triết vì gắn liền với lối sống và văn hóa của cá nhân, mở rộng ra là của cả một dân tộc, nên góp phần quyết định lựa chọn Hệ tư tưởng, quan điểm sử dụng hiện thời, đồng thời ảnh hưởng trực tiếp đến Thói quen, kĩ năng tư duy cá nhân và Văn hóa, môi trường làm việc. Nói cách khác, việc một cá nhân, và rộng ra là cả xã hội tư duy hiệu quả hay không, tạo ra được sản phẩm tư tưởng gì đáng kể hay không một phần là do nền tảng văn hóa –mà ở đó, minh triết có sự góp phần quan trọng– quyết định.

    Như vậy, minh triết có thể coi là một bộ phận cấu thành hạ tầng tư duy của cá nhân, và rộng hơn là của xã hội.

    Điều này nhìn bề ngoài thì có vẻ gần với quan điểm của François Juillien cho rằng, minh triết là hạ tầng của tư tưởng3, nhưng thực tế, lại khác về bản chất.

    Trước hết là sự khác biệt giữa hai đối tượng mà minh triết hỗ trợ: tư duy và tư tưởng. Tư duy là quá trình não bộ xử lý thông tin mà nó tiếp nhận để tạo ra tư tưởng. Vì thế, tư duy gắn liền với quá trình làm việc của não bộ, đặc biệt là quá trình lập luận, phân tích, tổng hợp, ra quyết định..., còn tư tưởng là sản phẩm của quá trình làm việc đó. Nói cách khác, tư tưởng là sản phẩm của tư duy. Vì thế, nếu coi minh triết là một bộ phận của hạ tầng tư duy thì minh triết sẽ tham gia quá trình tư duy để hình thành tư tưởng, có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm quá trình này, tùy đặc điểm của minh triết và tùy cách sử dụng minh triết của cá nhân và xã hội. Còn nếu coi minh triết là hạ tầng của tư tưởng như François Juilien quan niệm thì bản thân minh triết cũng phải là tư tưởng, mà lại là tư tưởng nền tảng. Nếu như vậy, minh triết trở thành triết học. Nhưng sự thực, minh triết không phải là triết học. Cho nên, minh triết không thể là hạ tầng của tư tưởng, mà chỉ có thể là hạ tầng tư duy. Chính xác hơn, minh triết là một bộ phận cấu thành hạ tầng tư duy của cá nhân và xã hội.

    Trên thực tế, minh triết gắn liền với văn hóa sống ở thì hiện tại nhiều hơn tư tưởng như một hệ thống có lịch sử. Minh triết thể hiện ở lối sống, nếp sinh hoạt, cách ứng xử của cá nhân với thế giới xung quanh. Nếu cá nhân tư duy để tạo ra một sản phẩm tư tưởng nào đó, thì minh triết sẽ tham gia vào quá trình tư duy đó, có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm quá trình tư duy thông qua việc ảnh hưởng đến thói quen, văn hóa làm việc, kĩ năng tư duy cá nhân..., chứ bản thân minh triết không phải là sản phẩm của quá trình tư duy.

    Vì thế mới có một thực tế đáng buồn là: một xã hội gồm những người minh triết, chưa chắc đã tạo ra những tư tưởng có giá trị, nhất là những tư tưởng có khả năng định hướng và thúc đẩy sự phát triển, dẫn đến một nghịch lý là tập hợp của những minh triết cá nhân có thể dẫn đến u triết tập thể, làm cho xã hội trì trệ vì chỉ quẩn quanh trong những giá trị lạc hậu, cũ rích.

    Sự chậm phát triển của nhiều nước phương Đông trong những thế kỉ gần đây là minh chứng rõ ràng cho điều này. Các bậc hiền triết ở phương Đông không hề thiếu, nhưng xã hội của các nước phương Đông giậm chân tại chỗ hàng thế kỉ, vì không tạo ra tri thức và tư tưởng có khả năng dẫn dắt và thúc đẩy xã hội phát triển.

    Nguyên nhân là do minh triết phương Đông đặt trọng tâm sự chú ý vào đời sống con người, nhấn mạnh vào cách ứng xử và điều phối các mối quan hệ giữa người với người trong xã hội, mà không quan tâm đúng mức sự khám phá giới tự nhiên, dẫn đến tình trạng ứng xử xã hội thì đạt mức nghệ thuật, nhưng tri thức để thúc đẩy xã hội phát triển thì gần như không có.

    Vì đặt sự quan tâm vào đời sống xã hội của con người, một thực thể đầy biến động, và đôi khi nguy hiểm đến sinh mạng khi có bất đồng, nên minh triết phương Đông đẻ ra văn hóa trọng sự hài hòa, trọng cái trung dung, trọng sự biến dịch, trọng đạo đức mà coi nhẹ đấu tranh, coi nhẹ sự dấn thân khám phá, coi nhẹ tri thức khoa học, dễ dấn đến sự coi thường chân lý.

    Chính việc trọng sự hài hòa, trung dung, biến dịch này đã đẻ ra tính cách “dĩ hòa vi quí”, thói quen ngại phê bình phản biện, tránh va chạm để giữ yên thân, thích áp đặt và vâng lời hơn là tranh luận, dẫn đến rất nhiều nghịch lý như cam chịu sự áp đặt nhưng lại độc đoán khi có điều kiện, xuê xoa dễ dãi, và phần nào đó là hời hợt, trong khi luôn tìm cách đạt đến Chân, Thiện, Mĩ.

    Xã hội khi đó trọng sự gắn kết và quyền lợi tập thể, đặc biệt là trong các mối quan hệ người-người, nhưng làm lu mờ vai trò của cá nhân và bản thân cá nhân như một thực thể có cá tính cần tôn trọng. Điều này dẫn đến tình trạng nghèo nàn về thành tựu tư tưởng, vì suy cho cùng, tư tưởng là kết quả của quá trình tư duy của cá nhân, nhưng lại đạt mức nghệ thuật về ứng xử trong cuộc sống.

    Vậy vai trò của minh triết là gì?

    Minh triết vì quan tâm chủ yếu đến đời sống con người, nên có khả năng điều phối các mối quan hệ giữa người và người để giữ cho xã hội ổn định, một yêu cầu quan trọng không kém yêu cầu phát triển. Như thế, minh triết có vai trò duy trì nền tảng đạo đức cho xã hội.

    Văn minh phương Tây vì chú trọng tìm hiểu và khai phá tự nhiên, đề cao cá nhân, nên dễ dẫn đến tình trạng phá sự hài hòa giữa con người với thiên nhiên và tạo ra xã hội tiêu thụ cá nhân. Cả hai điều này đều trái với những đặc trưng cơ bản của minh triết là đề cao sự hài hòa và lợi ích tập thể. Nên minh triết có vai trò hãm bớt sự hủy hoại thiên nhiên do bị khai phá quá mức và ngăn chặn sự suy đồi đạo đức do chú trọng quá đáng vào cá nhân mà xem nhẹ tập thể.

    Cũng vì vai trò ngăn chặn này, và nhờ đặt sự quan tâm chủ yếu với đời sống con người, minh triết có vai trò bảo tồn văn hóa. Vì bảo tồn văn hóa, không gì khác là bảo vệ những kết tinh của các giá trị cũ trước sự tấn công của văn minh tiêu thụ và sự hung hăng của xã hội vật chất có được thông qua khai phá tự nhiên.

    Như vậy, minh triết có ba vai trò chính: giữ nền tảng đạo đức trong xã hội thông qua điều phối quan hệ giữa người và người, bảo tồn văn hóa và giữ sự hài hòa giữa con người với thiên nhiên. Trong đó, giữ sự hài hòa giữa người với thiên nhiên là một kết quả tất yếu của việc giữ nền tảng đạo đức, bảo tồn văn hóa và tinh thần trọng sự hài hòa của minh triết.

    Nhưng đạo đức, văn hóa, sự hài hòa chỉ là một phần của cuộc sống. Lại là phần ổn định chứ không phải phần phát triển. Muốn phát triển, xã hội cần tri thức, cần khai phá, cần tư tưởng dẫn dắt v.v. Minh triết như cái phanh hãm, còn tri thức và khai phá giống như động cơ. Nếu chỉ có phanh hãm mà không có động cơ thì xã hội không phát triển. Nhưng nếu chỉ có động cơ mà thiếu phanh hãm thì dễ mất kiểm soát, gây ra sự tàn phá, đổ vỡ.

    Đây là lý do tại sao các xã hội minh triết phương Đông giậm chân tại chỗ hàng trăm năm, nay đang có xu hướng gạt bỏ minh triết để học theo văn minh phương Tây vì họ thiếu động cơ tri thức và khai phá có khả năng kéo xã hội thoát khỏi vũng lầy nghèo khó, còn các xã hội phát triển về vật chất phương Tây lại tìm đến minh triết như một phanh hãm cần thiết cho xã hội.

    Minh triết đóng góp gì cho phát triển?

    Nếu coi phát triển kết quả của việc ứng dụng tri thức vào mọi mặt của đời sống, thì minh triết chỉ có thể đóng góp vào sự phát triển nếu minh triết tham gia vào việc tạo ra tri thức.

    Nhưng thực tế cho thấy, minh triết hầu như không đóng góp gì nhiều vào việc tạo ra tri thức, bằng chứng là sự tụt hậu của các xã hội minh triết phương Đông so với văn minh vật chất phương Tây.

    Như thế, muốn đóng góp vào phát triển, bản thân minh triết và việc sử dụng minh triết phải thay đổi.

    Minh triết phải tự cải biến mình trên cơ sở tiếp thu những thành tựu tư tưởng của nhân loại, những tri thức khoa học mới, để thay đổi nội dung và cả hình hài, mở rộng phạm vi quan tâm sang cả giới tự nhiên chứ không phải chỉ giới hạn trong đời sống con người. Những nền tảng của minh triết như trọng trật tự, trọng tập thể hơn cá nhân ... cũng phải có những điều chỉnh phù hợp khi những thang giá trị đã có sự thay đổi, sự sáng tạo và vai trò của cá nhân ngày càng được đề cao.

    Cách sử dụng minh triết cũng cần thay đổi theo. Minh triết, sẽ không chỉ còn đóng vai trò duy trì đạo đức, bảo tồn văn hóa, giữ sự hài hòa giữa con người với thiên nhiên mà còn phải trực tiếp tham gia quá trình tạo dựng tri thức, tư tưởng.

    Một trong những cách sử dụng minh triết có hiệu quả là định vị minh triết như là một bộ phận của hạ tầng tư duy, từ đó khai thác những thế mạnh của minh triết như khả năng nhận thức bằng trực giác, khả năng cân bằng và điều phối các mối quan hệ, tư duy tổng thể... để tạo ra những sản phầm tư duy có giá trị - những tư tưởng và tri thức có khả năng định hướng và thúc đẩy xã hội phát triển.

    Những hạn chế do minh triết gián tiếp gây ra hoặc cổ vũ như lảng tránh phê bình, phản biện, hay thay đổi, thích áp đặt và vâng lời, trọng ổn định hơn phát triển... cũng cần phải giảm thiểu, tiến tới loại bỏ vì chúng gây cản trở cho sự phát triển, vì suy cho cùng, ổn định mà không phát triển là ổn định giả tạo. Ổn định chỉ thực chất khi có phát triển làm nền tảng nâng đỡ.

    Tính ù lỳ của minh triết, thể hiện ở xu hướng bảo thủ, luôn có xu hướng trở lại những giá trị cũ, và sự dễ dài, xuề xòa trong làm việc, thích sử dụng các giải pháp tình thế... do quá coi trọng cái biến dịch và sự trung dung, hài hòa gây ra cần phải được kiểm soát. Vai trò của cá nhân cần được coi trọng. Chỉ có như thế, minh triết mới thoát khỏi nghịch lý: tập hợp các minh triết cá nhân lại tạo ra u triết xã hội như đã từng thấy trong lịch sử.

    Cũng chỉ có như thế, minh triết mới có thể làm tốt vai trò giữ ổn định xã hội một cách thực chất và có đóng góp tích cực vào sự phát triển. Tiềm năng của minh triết khi đó mới được khai phá và khai thác một cách xứng đáng.
    ---
    Ghi chú: Phần khái niệm về Hạ tầng tư duy đã đăng ở TuanVietNam.Net, ngày 10/8/2009. Bài này đã gửi Hội thảo về Minh Triết , Hà Nội 22/9/09.

    Chú thích:

    1. Giáp Văn Dương, Hạ tầng tư duy và phát triển đất nước, TuanVietNam.Net, ngày 10/8/2009.

    Không tìm thấy trang

    2. Giáp Văn Dương, Xây dựng hạ tầng tư duy, TuanVietNam.Net, ngày 11/8/2009.

    Không tìm thấy trang

    3. François Julien, Bàn về Minh triết, trao đổi tại trung tâm Minh Triết Việt ngày 8/9/2009.

    BÀN VỀ MINH TRIẾT | François Jullien

    Blog Giáp Văn: Minh triết và Hạ tầng tư duy
     
  4. dinhcongbang

    dinhcongbang Bạn của mọi người

    Hạ tầng tư duy và phát triển đất nước

    Hạ tầng tư duy và phát triển đất nước

    Khi tư tưởng của mọi cá nhân, nhất là của tầng lớp trí thức được giải phóng và tự do lưu thông, trao đổi thì hạ tầng tư duy sẽ từng bước hình thành. Mà điều này, đôi khi chỉ xuất phát từ một vài văn bản của Nhà nước.

    Tiếp đó, phải củng cố và bồi đắp tất cả các yếu tố cấu thành hạ tầng tư duy.

    Các thành tựu tư tưởng của nhân loại phải được giới thiệu và truyền bá càng nhiều càng tốt, tạo thực đơn lựa chọn phong phú cho cá nhân và lãnh đạo trong việc chọn hệ tư tưởng, quan điểm sử dụng, hình thành những khung mẫu tư duy mới, đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn một cách sáng tạo, hiệu quả.

    Hệ tư tưởng, quan điểm sử dụng cũng cần được cập nhật, xem xét lại một cách thường xuyên trên cơ sở những thành tựu tư tưởng mới của nhân lọai và có những điều chỉnh phù hợp khi điều kiện kinh tế, lịch sử, văn hóa cụ thể của đất nước đã có sự thay đổi hoặc thời cuộc đã có những biến đổi đáng kể.

    Xây dựng và hoàn thiện cơ chế pháp lý hỗ trợ sao cho mọi cá nhân đều được khuyến khích tham gia vào việc hình thành và phát triển hạ tầng tư duy. Những cá nhân có đóng góp quan trọng cần được trân trọng và tưởng thưởng. Những sản phẩm tư duy có giá trị cần được bảo vệ.

    Các thói quen và kĩ năng tư duy tích cực, hiệu quả như tư duy độc lập, tư duy sáng tạo, tư duy phê phán, tư duy hệ thống cần được giới thiệu, phổ biến và huấn luyện cho đại chúng, nhất là học sinh, sinh viên. Những thói quen tư duy tiêu cực, kém hiệu quả như tư duy đối phó, tư duy cục bộ, tư duy một chiều cần được loại bỏ.

    Tác giả: TS Giáp Văn Dương

    Tốt nghiệp kĩ sư Đại học Bách khoa Hà Nội ngành Hóa Dầu năm 1999, Thạc sĩ Đại học Quốc gia Chonbuk (Hàn Quốc) ngành Công nghệ Hóa học năm 2002, Tiến sĩ Đại học Công nghệ Vienna ngành Vật lý kĩ thuật (PhD) năm 2006. Hiện làm việc tại Đại học Liverpool, Anh.

    Văn hóa, môi trường làm việc cũng cần được chỉnh trang, sửa đổi và cải tạo sao cho lành mạnh, cởi mở, tôn trọng sự khác biệt. Giao tiếp, trao đổi và cộng tác hiệu quả cần được khuyến khích và tạo điều kiện phát triển. Quan liêu, áp đặt, cá nhân, cục bộ cần được loại bỏ thẳng thừng.

    Lưu thông, trao đổi tư tưởng giữa các cá nhân cần được khuyến khích và bảo vệ. Tự do học thuật, tự do tư tưởng cần được đảm bảo. Chỉ có như thế, hạ tầng tư duy mới thông thoáng, lành mạnh và kết thành hệ thống vững chắc, trực tiếp thúc đẩy sự phát triển của xã hội.

    Cũng chỉ có như thế, hoạt động tư duy của mỗi cá nhân mới có thể góp phần kiến tạo và phát triển hạ tầng tư duy cho đất nước. Nếu không có sự liên thông trao đổi, hạ tầng tư duy sẽ mãi mãi xập xệ, nghèo nàn vì chỉ là một mớ tư duy manh mún của các cá nhân cô lập.

    Tuy chi phí đầu tư cho hạ tầng tư duy rất thấp, gần như là bằng không nếu so sánh với tổng đầu tư cho hạ tầng kinh tế, nhưng vai trò của hạ tầng tư duy lại lớn hơn vai trò của hạ tầng kinh tế trong việc phát triển đất nước. Vì hạ tầng tư duy đóng vai trò nâng đỡ, định hướng và dẫn dắt mọi hoạt động của xã hội, đảm bảo cho mọi kế hoạch được thành công ở mức cao nhất.

    Không có hạ tầng tư duy làm cơ sở, những khoản đầu tư khổng lồ của hạ tầng kinh tế sẽ rơi vào lãng phí, kém hiệu quả, thậm chí phản tác dụng vì hủy hoại môi trường.

    Vươn lên từ hạ tầng tư duy

    Tư duy đẻ ra tư duy. Hạ tầng tư duy tốt sẽ đẻ ra những sản phẩm tư duy có giá trị. Những cá nhân có khả năng đóng góp vào việc kiến tạo hạ tầng tư duy cho dân tộc cần được trân trọng và tạo điều kiện phát huy tối đa khả năng của mình. Năng lực tư duy của mọi cá nhân cần được giải phóng.

    Lấy trường hợp nhà triết học Trần Đức Thảo làm ví dụ. Ông là nhà triết học ở tầm quốc tế, được thế giới biết đến và trích dẫn. Những công trình của ông, dù không dễ đọc với đa số quần chúng, nhưng có tác dụng tạo nền tảng tư duy cho xã hội.


    Tư duy cần được, và phải được, giải phóng một cách triệt để. Ảnh: IPL

    Nhưng rất tiếc, trong suốt một thời gian dài, chúng ta không khai thác tối đa khả năng tư duy của ông cũng như nhiều trí thức lớn khác, để bây giờ, những thế hệ đi sau phải ngậm ngùi trước một khoảng trống mênh mông của triết học và tư tưởng Việt Nam hiện đại.

    Nếu chú trọng xây dựng hạ tầng tư duy trong mấy chục năm qua, có thể chúng ta đã có không chỉ một, mà nhiều Võ Nguyên Giáp, Trần Đức Thảo trong tất cả các lĩnh vực của đời sống, được thế giới biết đến và thừa nhận. Quan trọng hơn, có thể chúng ta đã có được một hạ tầng tư duy tốt, thúc đẩy đất nước phát triển nhanh hơn, mạnh hơn, trưởng thành và có vị thế cao hơn so với hiện giờ.

    Nhìn sang các nước phát triển, thấy rằng họ phát triển được phần nhiều đều dựa vào một hạ tầng tư duy vững chắc và thông thoáng, có tác dụng tham vấn cho việc ra các chính sách lớn của lãnh đạo và định hướng cho mọi hoạt động của cá nhân và cộng đồng.

    Họ cũng biết cách bồi đắp và phát triển hạ tầng tư duy qua các chính sách giáo dục và bồi dưỡng nhân tài. Chiến tranh, thiên tai có thể tàn phá cơ sở sản suất, nhà xưởng, đường xá chứ không thể tàn phá hạ tầng tư duy của đất nước. Điều đó giải thích vì sao những nước thua trận trong thế chiến thứ II như Đức, Nhật vẫn có thể vươn lên mạnh mẽ từ đống tro tàn.

    Còn chúng ta, sau hơn ba mươi năm hòa bình, vẫn bếp bênh ở ngưỡng thoát nghèo, và phải đương đầu với vô số nan đề trong nỗ lực đuổi kịp các nước trong khu vực.

    Hơn lúc nào hết, chúng ta phải bắt tay xây dựng và phát triển hạ tầng tư duy cho đất nước, mà khởi đầu là giải phóng năng lực tư duy của mọi cá nhân.

    Tư duy cần được, và phải được, giải phóng một cách triệt để.

    Giáp Văn Dương

    Blog Giáp Văn: Xây dựng hạ tầng tư duy
     
    fanduc likes this.
  5. panda93

    panda93 Thèm thuồng

    TS Giáp Văn Dương đã nổi tiếng từ hồi sinh viên vì khả năng hùng biện rất tốt rồi. Hy vọng những người như Dương sẽ luôn thành đạt và thực hiện được những dự định tốt đẹp của mình.
     
  6. dinhcongbang

    dinhcongbang Bạn của mọi người

    Việt Nam và lựa chọn mô hình phát triển khác Trung Quốc

    Việt Nam và lựa chọn mô hình phát triển khác Trung Quốc

    Xem xét mối quan hệ giữa Ổn định và Phát triển, thấy rằng: Việt Nam nên chọn mô hình Phát triển để ổn định thay vì Ổn định để phát triển mà ở đó, Phát triển được ưu tiên và sử dụng làm tiền đề để ra ra những chính sách lớn, tạo ra Ổn định.

    Việt Nam và lá»±a chá»n mô hình phát triển khác Trung Quốc
     
  7. dinhcongbang

    dinhcongbang Bạn của mọi người

    Quy trình 10 điểm để Việt Nam phát triển khác Trung Quốc (P.1)

    Quy trình 10 điểm để Việt Nam phát triển khác Trung Quốc (P.1)


    Nếu chọn phát triển là mục tiêu thì cơ chế quản lý và điều hành đất nước là yếu tố đầu tiên cần phải thay đổi. Cơ chế quản lý ôm đồm, không quản được thì cấm đã trở nên lạc hậu - TS Giáp Văn Dương.

    LTS: Trong phần trước, tác giả Giáp Văn Dương cho rằng, khác với Trung Quốc lấy Ổn định để Phát triển, trong mối quan hệ Ổn định - Phát triển, Việt Nam nên chọn Phát triển làm điểm đột phá, làm tiền đề kiến tạo Ổn định. Việt Nam cần sớm chính danh hóa mô hình này và triển khai vào thực tế, với quy trình 10 điểm.

    Trong phần 2 này, tác giả thảo luận quy trình mười điểm nhằm mục đích xây dựng và triển khai mô hình Phát triển để ổn định vào thực tế sao cho hiệu quả.

    ...

    Quy trình 10 điểm để Việt Nam phát triển khác Trung Quốc (P.1)
     
    livefully likes this.
  8. dinhcongbang

    dinhcongbang Bạn của mọi người

    Học gì từ Nguyễn Trường Tộ?

    Học gì từ Nguyễn Trường Tộ?
    Giáp Văn Dương

    Bài học lớn nhất mà chúng ta học được từ Nguyễn Trường Tộ chính là sự thất bại của ông trong việc kiến nghị những giải pháp canh tân đất nước với tư cách một trí thức. Từ đó thấy rằng, chỉ khi nào người trí thức tự giác tránh con đường cụt mang tên “Trí thức cận thần” để đi trên con đường mới - con đường trí thức độc lập, trí thức dấn thân - thì đất nước mới có thể tránh được nguy cơ trở thành “đất nước cận thần” và giữ được nền độc lập đúng nghĩa.

    Mỗi khi nói về sự canh tân của nước Nhật, ta không khỏi nghĩ đến Fukuzawa Yukichi.

    Mỗi khi nghĩ đến Fukuzawa Yukichi, ta không khỏi nghĩ đến Nguyễn Trường Tộ.
    Cả Fukuzawa Yukichi và Nguyễn Trường Tộ đều là là những nhà tư tưởng về cải cách, sống cùng giai đoạn lịch sử. Nhưng một người thành công, một người thất bại.
    Câu hỏi đặt ra là: Vì sao Fukuzawa Yukichi thành công, còn Nguyễn Trường Tộ thì thất bại?
    Một phần của câu trả lời đến từ sự khác nhau trong cách tiếp cận của hai người.

    Trí thức độc lập
    Sau khi tiếp thu nền văn minh phương Tây, và nhận thấy cần phải tiến hành cải cách để canh tân đất nước nhằm giữ nền độc lập, vươn lên sánh vai cùng các cường quốc phương Tây, Fukuzawa Yukichi tiến hành chương trình hành động của mình.

    Các việc làm của Fukuzawa Yukichi tương đối phong phú, nhưng có thể khái quát ngắn gọn như sau: mở trường dạy học, dịch sách, viết sách, làm báo để truyền bá văn minh phương Tây cho trí thức và dân chúng Nhật Bản.
    Ông tìm cách khai sáng cho dân chúng và trí thức Nhật Bản, lúc đó còn chìm đắm trong lối học từ chương ảnh hưởng của Nho giáo Trung Hoa, thông qua việc cổ vũ lối thực học của phương Tây; xây dựng hình mẫu trí thức độc lập và chủ trương “độc lập quốc gia thông qua độc lập cá nhân”.

    Bản thân ông cũng hành động như một hình mẫu của trí thức độc lập, không phục thuộc vào giới cầm quyền.
    Ông kêu gọi trí thức Nhật Bản lúc bấy giờ hãy "coi trọng quốc gia và coi nhẹ chính phủ", tự tin vào sức mạnh và vị thế độc lập của mình. Từ đó dấn đến niềm tin tuyệt đối vào sức mạnh của tri thức và nền văn minh mới mẻ có tác dụng giải phóng tư duy và bồi đắp sự độc lập của cá nhân.

    Khi trường Đại học Keio do ông sáng lập có nguy cơ phải đóng cửa vì nội chiến, chỉ còn 18 học sinh, nhưng ông vẫn tin tưởng: “Chừng nào ngôi trường này còn đứng vững, Nhật Bản vẫn sẽ là quốc gia văn minh trên thế giới”.
    Fukuzawa Yukichi sống và làm việc như một trí thức độc lập điển hình.

    “Trí thức cận thần”
    Khác với Fukuzawa Yukichi, Nguyễn Trường Tộ, sau khi tiếp thu văn minh phương Tây, không truyền bá để khai sáng cho đại chúng mà dành phần lớn tâm sức cho việc viết tấu trình gửi nhà Vua. Tất cả các bản tấu trình và điều trần của ông đều không được đưa ra sử dụng, dù hơn ai hết, ông biết được giá trị thật của chúng: "Tế cấp luận thâu tóm trí khôn của thiên hạ 500 năm nay... Bài Tế cấp luận của tôi nếu đem ra thực hành hàng trăm năm cũng chưa hết".

    Bằng cách đó, ông đã phụ thuộc tuyệt đối vào nhà cầm quyền, đánh mất vị thế độc lập của người trí thức. Nói cách khác, ông hành xử như một “trí thức cận thần”: Viết tấu trình và chờ đợi sự sáng suốt của nhà Vua.
    Như thế, ông đã tự tước đi cơ hội của chính mình, và rộng ra là của cả dân tộc, vì trong suốt lịch sử, số lượng các minh quân vô cùng ít.

    Những kiến nghị cải cách của ông, dù đúng đắn và có tầm vóc thời đại, nhưng rốt cuộc lại trở nên vô dụng.
    Do hành xử như một “trí thức cận thần”, không có được sự độc lập cho bản thân mình, dẫn đến không có đóng góp gì đáng kể vào sự hình thành giới trí thức đúng nghĩa, nên sau khi ông mất đi, không có người tiếp nối. Tư tưởng canh tân đổi mới của ông vì thế bị chìm vào quên lãng.

    Bài học cho hậu thế
    Sự thất bại của Nguyễn Trường Tộ chính là bài học lớn nhất dành cho hậu thế. Tiếc rằng, bài học này, dù phải trả học phí rất đắt bởi không chỉ Nguyễn Trường Tộ mà còn cả dân tộc, không được sử dụng.

    Những người có trách nhiệm thậm chí còn cổ vũ và yêu cầu trí thức phải đi theo lối con đường “trí thức cận thần” của Nguyễn Trường Tộ khi cho rằng: Trí thức muốn kiến nghị hay phản biện xã hội, cần gửi cho các cơ quan hữu trách trước khi phổ biến ra ngoài xã hội.

    Lịch sử đã chứng minh: Đi theo còn đường đó là đi vào ngõ cụt. Làm theo cách đó là kéo lùi bước đi của dân tộc.
    Trước tình cảnh đó, không còn cách nào khác, người trí thức phải tự giác tránh con đường cụt đó, con đường “trí thức cận thần”, để đi con đường mới: con đường trí thức độc lập, trí thức dấn thân.

    Chỉ khi đó, đất nước mới tránh được nguy cơ trở thành “đất nước cận thần”, và giữ được nền độc lập đúng nghĩa.
    Việc Quốc hội lắng nghe tiếng nói của những trí thức độc lập trong thời gian gần đây cho thấy con đường trí thức độc lập đã được khai mở, chỉ chờ người dấn bước.

    ________________________
    Ghi chú:
    1. Trái với dự đoán, sau khi kiểm tra tôi thấy: cụm từ “trí thức cận thần” chưa phổ biến, và chưa thấy xuất hiện trên mạng internet.

    2. Tôi được biết cụm từ này trong một thảo luận với một người bạn, TS. Nguyễn Đức Thành, vào khoảng đầu tháng 5/2010. Theo anh Thành, cụm từ này được hình thành trong một thảo luận của anh với một người bạn khác, TS. Nguyễn An Nguyên. Tuy nhiên, anh cũng không rõ đã có ai sử dung cụm từ này trước đó hay chưa.

    3. Có một cụm từ khác có nghĩa gần tương tự với “trí thức cận thần”, đó là “trí thức phò chính thống”, do nhà văn Phạm Thị Hoài nêu ra. Tuy nhiên, theo tôi, nội hàm của hai cụm từ này có nhiều điểm khác biệt khá tinh t&871;.

    4. Nếu ai đã thấy văn bản nào có cụm từ này rồi thì vui lòng báo cho tôi biết. Cá nhân tôi thấy cụm từ này có một nội hàm đáng suy ngẫm.

    Blog Giáp Văn: Há»c gì từ Nguyá»…n TrÆ°á»ng Tá»™?
     
  9. hieuphth

    hieuphth Viên mãn

    Tranh thủ post của bác Bằng, em cập nhật thông tin TS Giáp Văn Dương tý.
    TS Giáp Văn Dương không còn ở Liverpool nữa mà đã chuyển sang làm việc ở PTN Temasek thuộc NUS, Singapore
    https://aces01.nus.edu.sg/srd/BrwsStfDtl?STF=11
    Một điều thú vị, trong cùng nhóm Điện Từ học ở PTN Temasek, ngoài anh Dương còn có TS Nguyễn Nguyên Phước - một cây bút văn học không chuyên có lối viết độc đáo, tác giả của nhiều truyện ngắn được bạn đọc yêu thích.
     
    dinhcongbang likes this.
  10. papo

    papo Thèm thuồng

    Chuyên môn của bác Dương la hóa mà sao thấy toàn viết bài trên Vietnamnet lá cải thế nhỉ? ai đó post hộ cái publication list của bác Dương lên cho mọi người xem với. Mình đã tìm ISI nhưng mà kết quả hơi thất vọng, có thể mình chưa tìm đúng.
     
  11. manutd

    manutd Thèm thuồng

  12. dinhcongbang

    dinhcongbang Bạn của mọi người

  13. Timmy

    Timmy Viên mãn

    Anh đã về tổ quốc thân yên. Chúc anh chân cứng đá mềm.
    ===========================================

    chuyện của niềm tin
    Giáp Văn Dương

    Như bao bạn trẻ khác, tôi rời quê khi học hết phổ thông. Rồi cũng như bao người khác, tôi ra nước ngoài học tiếp khi xong đại học.

    Gần mười hai năm học tập và làm việc ở nước ngoài, tôi có bạn bè mới, thầy cô mới, đồng nghiệp mới. Trong công việc không có định kiến, không có phân biệt. Tất cả diễn ra trong một sự trung thực và cởi mở hồn nhiên. Hồn nhiên đến mức ngạc nhiên. Tôi chìm đắm trong bầu không khí dân chủ, bình đẳng và tinh thần tự do học thuật. Tôi thấy mình được tôn trọng, và ý thức được mình có quyền được người khác tôn trọng.

    Tôi phải làm đủ thứ giấy tờ nhưng không bao giờ thấy những con dấu đỏ. Chỉ cần một chữ ký cá nhân là đủ, một cuộc điện thoại, một lá email là xong. Không ai hạch sách, không ai đòi kiểm tra, không ai đòi công chứng bản gốc.

    Tôi lên tàu điện: không có người soát vé. Họ tôn trọng chúng tôi, và tin chúng tôi. Thỉnh thoảng họ có đi kiểm tra định kỳ thì cũng rất lịch sự, không gây cho mình cảm giác khó chịu.

    Tôi ra siêu thị: không ai bắt tôi phải gửi đồ trước khi vào mua hàng. Không ai kiểm tra chúng tôi khi ra. Họ tôn trọng chúng tôi, và tin chúng tôi.

    Tôi và một người bạn đi mua bảo hiểm xe. Điều khoản cho biết, nếu mất xe thì sẽ được đền xe mới. Bạn tôi hỏi: nếu chúng tôi bán xe rồi báo mất thì sao? Nhân viên bảo hiểm ngạc nhiên mất một lúc lâu mới nghĩ ra được câu trả lời: tôi tin các anh không làm thế.

    Lần đầu tiên tôi cảm nhận được sự tin tưởng mang tính hệ thống. Một sự tin tưởng cá nhân mạnh mẽ lan tỏa trong toàn xã hội. Chữ Tín được xác lập mà không cần sự có mặt của các loại công chứng bản gốc, chứng thực, xác nhận…

    Tôi vỡ ra: À, ra thế. Họ giàu mạnh vì họ tin ở con người.

    2. Mười hai năm sau tôi trở về. Nhiều cái như xưa. Nhiều cái hơn xưa. Nhưng cũng nhiều cái tệ hơn xưa.

    Tôi làm thủ tục nhận đồ mình gửi cho mình. Tên tôi đây. Địa chỉ tôi đây. Hộ chiếu của tôi đây. Vậy sao mà rắc rối đến vậy? Sao phải xác nhận? Sao phải chứng minh? Sao phải công chứng bản gốc?

    Tôi có làm gì đâu, chỉ là nhận đồ mình gửi cho mình thôi mà sao phức tạp như vậy. Lẽ ra tôi chỉ chờ ở nhà, đúng hẹn công ty vận chuyển sẽ mang đồ đến. Tôi chỉ cần ký xác nhận là xong.

    Tôi được giải thích ở Việt Nam mọi thứ cần phải đúng quy trình chứ không đơn giản như vậy.
    Tôi ngẫm ra: Càng nhiều dấu đỏ, càng ít niềm tin.

    3. Tôi đưa gia đình đi siêu thị Big C Long Biên. Niềm vui khi thấy một siêu thị bề thế, nhộn nhịp vừa mới nhen lên thì gặp ngay một chuyện ngỡ ngàng: Tất cả những ai muốn vào siêu thị đều phải gửi đồ bên ngoài. Con gái tôi có một túi khoác nhỏ để đựng mấy thứ lặt vặt cũng phải niêm phong rồi mới được mang theo.

    Vì sao vậy? Chúng tôi hỏi thì chỉ nhận được câu trả lời: Đây là quy định!

    Quy định gì? Quy định không được tin nhau.

    Câu chuyện có lẽ sẽ chỉ là một phiền toái buồn, nếu không có chuyện sau khi thanh toán, tất cả khách hàng lại bị kiểm tra một lần nữa, và hóa đơn phải được đóng dấu đỏ “đã thanh toán” thì mới được nhân viên an ninh cho ra ngoài.

    Chúng tôi tự hỏi: chuyện quái quỉ gì đang xảy ra vậy? Quầy thanh toán có hai nhân viên kiểm tra và tính tiền. Từ quầy thanh toán ra đến cửa ra này chỉ chừng 2 mét, lại không có hàng hóa gì bày bán trên đoạn đường 2 mét đó. Vậy cớ sao phải kiểm tra lại? Cớ sao phải đóng dấu vào hóa đơn thì mới được ra?

    Vợ tôi phản ứng dữ dội: Nếu kiểm tra mà không tìm thấy sai sót nào thì các anh có xin lỗi chúng tôi không? Nhưng chúng tôi chỉ nhận được một câu trả lời lạnh lùng: Đây là quy định.

    Tôi nhìn những người xếp hàng chờ kiểm tra và đóng dấu hóa đơn. Tất cả đều kiên nhẫn và ngoan ngoãn. Họ có thể làm gì trên đoạn đường dài 2 mét đó để phải chịu cảnh khám xét?

    Tôi lặng lẽ quan sát. Rất nhiều người lớn tuổi. Lịch sử như phảng phất qua bộ quân phục cũ. Một vài nụ cười cầu hòa dù chủ nhân không làm gì sai. Một vài ánh mắt lấm lét không có lý do. Nhiều gương mặt cam chịu và chờ đợi cảnh được khám xét.

    Tôi cố gắng tìm lý do để biện minh cho việc làm kỳ quái đó, nhưng không thể.

    Tôi rút ra kết luận: Nhiều người Việt không tin người Việt. Nhiều người Việt không hiểu rằng mình có quyền phải được người khác tôn trọng.

    4. Chúng tôi ra về, nhưng vẫn ám ảnh câu hỏi: Vì sao người Việt không tin nhau? Phải chăng chúng ta đã quen sống trong một sự cảnh giác thường trực đến độ thành phản xạ có điều kiện?

    Tôi bất giác nhớ đến mớ giấy tờ đỏ choét những con dấu công chứng sao y bản gốc. Tôi tự hỏi: Tôi và triệu người quanh tôi đã mất bao nhiêu thời gian cho những thứ này?

    Tôi thở dài: càng nhiều dấu đỏ, càng ít niềm tin.

    Tôi tự hỏi: Phải chăng đang có một cuộc “khủng hoảng niềm tin”?

    Và khi nào thì người ta không tin nhau?

    Rõ ràng là khi có sự dối trá. Người ta không tin nhau khi cần phòng tránh sự dối trá.

    Vậy là đang có một sự dối trá phổ biến, đến mức một đoạn đường 2 mét và được kiểm soát chặt chẽ cũng trở nên đáng ngờ.

    Và chúng ta đã mất biết bao nhiêu thời gian và nguồn lực để cảnh giác, phòng tránh, đương đầu với sự dối trá này?

    Không ai thống kê định lượng, nhưng chắc hẳn là rất nhiều. Nhiều đến mức có thể làm cho đất nước ta kiệt quệ. Kiệt quệ vì luôn phải cảnh giác, đề phòng.

    5. Việt Nam đang rất cần một sự quy tụ nguồn lực để phát triển. Nhưng quy tụ làm sao khi cả xã hội sống trong tâm trạng cảnh giác thường trực, lúc nào cũng nơm nớp đề phòng? Quy tụ làm sao khi sự giả dối đã trờ thành một lối sống của xã hội? Quy tụ làm sao khi niềm tin giữa người với người đã trở nên cạn kiệt?

    Việt Nam đang rất cần hội nhập, rất cần làm bạn với thế giới bên ngoài. Nhưng hội nhập làm sao khi luôn nhìn thế giới bên ngoài với con mắt thù địch nghi ngờ? Làm bạn làm sao khi không có lòng tin vào đối tác của mình?

    Đất nước đã thống nhất nhưng lòng người chưa thống nhất. Di sản của mấy mươi năm chiến tranh quá đỗi nặng nề. Trong này kinh tế khó khăn. Ngoài kia Biển Đông nổi sóng. Một cuộc hòa giải, để sau đó thực sự có một sự hòa hợp Nam Bắc, trong ngoài là cần thiết hơn bao giờ hết. Muốn vậy cần xóa bỏ mọi nghi kỵ lẫn nhau giữa mọi tầng lớp xã hội.

    ***
    Nhiều học giả đã gọi niềm tin là một thành phần quan trọng của vốn xã hội. Khi niềm tin cạn thì vốn xã hội cũng cạn theo. Mà cạn vốn thì làm sao phát triển.
     
  14. nxhoai

    nxhoai Moderator

    Cậu chuyện shock văn hóa và chuyện khác biệt giữa based on trust và based on distrust (ở VN) mà bạn Dương kể thì là chuyện quá cũ kỹ rồi, đã nhiều người nói điều này, chỉ có trước bạn Dương chưa ai viết bài trên Tia Sáng. Vấn đề là cần phân tích kỹ hơn, suy nghĩ sâu hơn xem tại sao nó lại đến nông nỗi đó. Điều đó thì chắc bạn Dương cần sống ở VN lâu hơn nữa để quan sát và chiêm nghiệm ....

    Keyword gợi ý: Chuyện Trang vương bắt cả xã hội gọi con hươu là con ngựa, chuyện ông vua cởi chuồng trong "bộ quần áo mới của Hoàng đế', ... đó chính là nguồn gốc của mọi sự giả dối trong xã hội này.
     
  15. JS

    JS lãng đãng

    Nhiều bác cứ hay viết bài so sánh xã hội VN và nước ngoài.
    Các bác nhìn xem điều kiện và xã hội VN nó đang ở mức nào, lịch sử VN nó so với phương Tây nó như thế nào rồi hãy đem ra so sánh.
    Viết thì viết ra cái mà bản thân mình muốn, nhưng cái mình muốn và điều kiện thực tế nó quá xa cách nhau.
    Nâng cao dân trí của gần 90 triệu người, thay đổi quán tính của 1 cái đoàn tầu chứa 90 triệu người chạy suốt như thế cả 1 thể kỉ nay. Nhìn lại lịch sử các nước khác, tính thử xem mất bao nhiêu năm?
    Những bài như trên nói chung là negative, kiểu đứng ngoài so sánh. Những cái gọi là lòng tin, sự lịch sự văn minh là cái đến sau cùng, sau khi kinh tế đời sống, luật pháp v.v. được đảm bảo, được xây dựng 1 thời gian rất dài, để người ta tự hiểu rằng, nếu ko làm những cái đó thì xã hội chỉ có đi xuống.
    Mình ko phản đối những bài viết như thế này, nhưng nói chung là ko thấy thiết thực.
     
    namzin86 likes this.
  16. champs

    champs OK? Computer?

    Bác này chắc lâu lắm mới về VN thế nên mới bị shock. Gì chứ dân VN thì luôn cảnh giác, kể cả dân VN ở nước ngoài.

    Đoạn dưới chắc là tránh việc nhân viên quầy thanh toán thông đồng với khách hàng?

     
  17. mtcmos

    mtcmos Viên mãn

    Bác Dương này đi nước ngoài 12 năm mới về thăm nhà 1 lần hay sao ???
     
  18. hut

    hut Thèm thuồng

    Người Việt bản chất là "quan thì tham mà dân thì gian".
    Cứ cái chuyện ở bển thì đồ mua mà không thích thì được đổi trong 1 tháng hoặc 2 tuần vì bất cứ lý do gì. Về VN mà có trò này thì hầu hết các bác mua xong dùng vài ngày trả lại, hoặc tráo đồ, ... thì siêu thị nó có mà lỗ vốn.
    Muốn văn minh văn hóa, thì phải cả người bán lẫn người mua.
    Tóm lại, cái gì thuộc về bản chất thì có mà Giời thay đổi được.
     
  19. JS

    JS lãng đãng

    Bản chất con người ta là tham lam vị kỉ, ai cũng muốn tư lợi riêng cho mình, VN hay châu Á hay Tây đều thế cả. Nhưng ngoài chuyện giáo dục đánh thức lương tri của mỗi người, thì hệ thống tổ chức xã hội nó góp phần ngăn chặn chuyện người ta làm những việc có hại cho người khác cho cộng đồng. Ví dụ buôn gian bán lận thì trước sau cũng bị phát hiện ra , mà phát hiện ra ngồi tù, là mất lòng tin của người khác, lần sau ko ai người ta mua hàng nữa. Giữa 2 cái được và mất người ta tự cân đong đo đếm xem có dám liều ko, liên quan mịa gì đến bản chất dân tộc nào.
     
  20. langtubachkhoa

    langtubachkhoa Viên mãn

    Chính xác, thằng Tây sinh ra lớn lên ở VN thì cũng như VN, thậm chí nó là thằng Tây lớn mà muốn làm việc ở bộ máy VN thì hoặc nó phải theo thế hoặc quit. VN, cũng như nhiều nước đang phát triển, nhiều vấn đề, nhưng sẽ luốn có những vấn đề nền tảng và sau đó là các vấn đề khác là hệ quả phát sinh như mấy cái các bác vừa nói.
     

Share This Page