Khuyến học, dịch thuật và KHXH & NV

Discussion in 'Quán nước VietPhd' started by Nkd, Nov 30, 2012.

  1. Nkd

    Nkd Viên mãn

    Lẽ ra tôi gộp chung vào topic về cải cách giáo dục. Tuy nhiên, bài viết này khá dài và xứng đáng có một topic riêng nên tôi mở topic riêng. Sau khi để khoảng 1 tuần để mọi người góp ý xem có cần sửa sang gì không, tôi sẽ gửi lên đâu đó, ví dụ Danluan.org

    ========================


    Tôi đã xem khá nhiều bài viết về khuyến học và vai trò của dịch thuật trong khuyến học. Có nhiều ý kiến ca ngợi kinh nghiệm khuyến học của Nhật bản. Một số người cho rằng cần phải có những dự án lớn đầu tư vào việc dịch thuật. Một số khác cho rằng chúng ta chưa thực sự cầu thị, khiêm tốn. Một vài người nữa lấy làm tiếc vì chúng ta không có những nhà tư tưởng, nhà văn hóa lớn như Fukuzawa (1). Tôi xin nêu một số ý kiến về vấn đề này.


    1) Khuyến học là gì?

    Để xác định thế nào là khuyến học, trước tiên ta cần phải xác định mục đích mà chúng ta hướng tới. Theo quan điểm của tôi, Mục Đích của khuyến học là để biến Việt nam trở thành một cường quốc về văn hóa, khoa học, kỹ thuật và nghệ thuật, một xã hội văn minh và đầy tính nhân bản. Hi vọng độc giả sẽ tạm thời chấp nhận định nghĩa này để chúng ta cùng bàn tiếp.

    Nhiều ý kiến cho rằng hình ảnh người dân cầm sách đọc ở khắp nơi như Nhật bản là một mẫu mực của xã hội dân trí cao. Họ kêu gọi đầu tư lớn vào công việc dịch thuật với hi vọng rằng sẽ có nhiều người tham gia đọc sách. Chừng nào việc đọc sách trở thành thói quen của toàn dân thì VN sẽ dần dần đạt được mục tiêu nói trên.

    Theo tôi, Nhật bản là một hình mẫu, tuy nhiên không chắc đã phù hợp với nước ta. Nước Nhật trong lịch sử có vị thế địa lý vừa khắc nghiệt (động đất liên miên) vừa thuận lợi cho việc khuyến học (độc lập với các quốc gia khác ít nguy cơ ngoại bang can thiệp). Quan trọng hơn, bối cảnh để có thể khuyến học theo kiểu Nhật bản (trình độ học vấn trung bình của dân Nhật khi ấy rất thấp, số lượng sách cần phổ biến trong dân chưa nhiều, tinh thần kỷ luật cao của người Nhật (do điều kiện sống quá khắc nghiệt, bắt buộc phải tuân theo kỷ luật cao để tồn tại), sự xuất hiện của một số nhà tư tưởng lỗi lạc, với tầm kiến thức vượt xa mặt bằng của công chúng như Fukuzawa) thì Việt nam không hề có hoặc đã trải qua.

    VN hiện nay đã phổ cập giáo dục phổ thông đến 90%, sự phát triển ngành nghề vô cùng đa dạng, mục đích sống của công chúng cũng vô cùng đa dạng, không có những nhà văn hóa, tư tưởng vượt tầm thời đại (và có lẽ cũng không nên kỳ vọng vào chuyện này). Ngoài ra, Nhật bản là một mô hình nhưng không phải là hình mẫu duy nhất, bắt buộc phải tuân theo. Anh, Pháp, Mỹ không có số lượng người dân đọc sách nhiều như Nhật bản, nhưng không ai nói rằng các nước này không phải là cường quốc về các lĩnh vực trên.

    Quan trọng hơn cả, tôi cho rằng TRÌNH ĐỘ DÂN TRÍ CỦA MỘT QUỐC GIA TỶ LỆ THUẬN VỚI SỐ LƯỢNG HỌC GIẢ,NHÀ VĂN HÓA, VĂN NGHỆ SỸ, NHÀ NGHIÊN CỨU, NHÀ KHOA HỌC và các NHÀ CHUYÊN MÔN. (những người mà tôi sẽ gọi chung là các CHUYÊN GIA) Ở đây tôi chỉ tính số lượng những người thực sự làm nghiên cứu, ứng dụng và phát triển văn hóa, khoa học, kỹ thuật và nghệ thuật chứ không tính số lượng kiểu như “hai vạn tiến sỹ”.

    Nếu coi “Toàn dân đọc sách” giống như việc xây dựng QUẢNG TRƯỜNG thì việc đầu tư để có được đội ngũ Chuyên gia kể trên giống như việc xây KIM TỰ THÁP. Xây quảng trường hàm nghĩa nâng cao dân trí cho toàn dân lên một mức nhất định, không chú trọng lắm xây dựng các đỉnh. Xây Kim Tự Tháp thì tập trung vào nhóm trí thức, chú trọng tầm cao và phát triển các đỉnh. Chúng ta cần phải đặt trọng tâm vào việc xây KIM TỰ THÁP chứ không phải xây QUẢNG TRƯỜNG. Toàn dân đọc sách chỉ là một tiêu chí của khuyến học nhưng không phải là tiêu chí quan trọng, nhất thiết phải có, bởi không giúp chúng ta đạt được Mục Đích của khuyến học nhiều như ta tưởng. QUẢNG TRƯỜNG chỉ là hệ quả của việc xây KIM TỰ THÁP mà thôi.

    Tại sao vậy??

    Bởi lẽ “Toàn dân đọc sách” chỉ là vấn đề hình thức. Nếu theo định nghĩa trí thức của Thomas Sowell(1) thì Việt nam cũng giống như mọi quốc gia khác có số lượng trí thức là thiểu số. Những thành phần còn lại, phần lớn trong số lao động phổ thông và những người có năng lực nhận thức hạn chế, luôn chiếm đa số. Tuy nhiên trí thức chính là những người chiếm lĩnh mọi vị trí trọng yếu trong các ngành khoa học, kỹ thuật, văn hóa, nghệ thuật, tư tưởng, nghĩa là những người sẽ chịu trách nhiệm biến VN trở thành một quốc gia cường thịnh, chứ không phải những thành phần khác. TOÀN DÂN ĐỌC SÁCH là một giấc mơ đẹp đẽ, góp phần nâng tầm quốc gia về phương diện văn minh và nhân bản. Tuy nhiên, trình độ của tầng lớp trí thức mới là điều đáng bàn, bởi nó gắn liền với mục đích của khuyến học. Và như vậy chúng ta cần xác định đối tượng chủ yếu của khuyến học là khuyến trí thức và học sinh, sinh viên (những trí thức tương lai).


    2) Khuyến học như thế nào?

    Tôi cho rằng Nhật Bản phát triển cường thịnh được như hiện nay không hẳn nhờ phong trào toàn dân đoc sách mà chủ yếu nhờ những chính sách đúng đắn của Thiên Hoàng Minh Trị và các triều đại về sau, cử thanh niên đi phương tây du học, nhờ đội ngũ học giả, chuyên gia, nhà chuyên môn tích cực tham gia vào việc khuyến học, và đặc biệt là nhờ nền giáo dục phổ thông và đại học tiên tiến theo mô hình phương tây.

    Về phía nhà nước, tôi tin rằng các chính sách học bổng du học hiện nay của VN là đúng hướng. Một số quan điểm về cải cách giáo dục theo phương tây, tôi đã trình bày trong bài phản hồi GS. Hoàng Tụy (2). Tôi chỉ muốn nhắc lại và nhấn mạnh việc thuê chuyên gia nước ngoài thiết kế toàn bộ khung chương trình giáo dục phổ thông, tránh tình trạng chuyên gia VN tự thiết kế như đã từng xảy ra với đề án quốc gia về phát triển Công Nghệ Thông Tin và Thương Mại Điện Tử.

    Tuy nhiên về phía cá nhân, có rất nhiều điều cần bàn. Những điều tôi nói ở trên có lẽ không mới, kể cả quan điểm xây KIM TỰ THÁP chứ không phải QUẢNG TRƯỜNG. Về lý thuyết nhiều người biết như vậy, nhưng trên thực tế ở nước ta, tư duy QUẢNG TRƯỜNG dường như vẫn còn nhiều đất sống.

    Tư duy QUẢNG TRƯỜNG thế hiện ở một quan niệm phổ biến trong giới trí thức và học sinh, sinh viên về hình ảnh của một người có học vấn cao là một người đọc nhiều sách phổ biến tri thức và các loại sách truyện hư cấu. Điều này có nguyên nhân là sự thiếu vắng trầm trọng việc các CHUYÊN GIA tham gia khuyến học theo đúng chuyên môn, thay vào đó là vô số các nhà khác. Và loại sách phổ biến được họ khuyến khích đọc nhất là các sách Best-sellers, sách viết cho đại chúng, sách nhập môn, sách cho người chưa biết gì (gọi chung là loại Sách Phổ Biến Tri Thức).

    Điều này đặc biệt đúng với các ngành KHXH và NV. Đa số chúng ta đều hiểu rằng không thể tùy tiện phát biểu về xây dựng đập thủy điện, nhà máy điện hạt nhân, điện toán đám mây mà không có hiểu biết chuyên sâu về lĩnh vực ấy. Tuy nhiên, đối với các lĩnh vực thuộc về KHXH và NV thì hình như không phải như vậy. Có lẽ các lĩnh vực này quá gần gũi với cuộc sống, quá “dễ” cho ý kiến, cho nên số lượng bài viết thiếu tính chuyên môn cho những vấn đề đòi hỏi chuyên môn nhiều vô kể. Ngay cả nhiều cây bút chuyên nghiệp cũng không nghĩ rằng phải cập nhật các kiến thức chuyên ngành, hoặc do thiếu các chuyên gia gợi ý cho họ phải cập nhật kiến thức gì về chuyên ngành.

    a) Một ví dụ về lĩnh vực chính trị

    Lấy ví dụ về chính trị, là một lĩnh vực nóng bỏng được giới trí thức VN đặc biệt quan tâm và mong muốn nâng cao dân trí. Theo dõi rất nhiều cây bút người Việt chuyên phân tích chính trị cả trong và ngoài nước, tôi nhận thấy rất hiếm tác giả thể hiện rằng đã có những hiểu biết chuyên sâu về Triết học Chính trị và Xã hội học Chính trị. Tại sao cần hai môn này?? Bởi lẽ Triết học chính trị (THCT) là môn khoa học về “chính trị, tự do, công bằng, tài sản, quyền, luật và việc thực thi luật pháp”, và Xã hội học chính trị (XHHCT) là môn khoa học về ”nhà nước, quyền lực, các phong trào xã hội, các sự kiện, thể chế, quan hệ giữa nhà nước và các nhóm xã hội và cá nhân”, và là hai môn học cung cấp cơ sở lý luận quan trọng để phân tích chính trị Việt nam. (Nếu như phân tích chuyên về chính trị quốc tế thì còn cần phải học về Chính Trị So Sánh và Chính Trị Quốc Tế). Nhưng điều quan trọng hơn: muốn thu hút công chúng quan tâm đến chính trị, bản thân người viết phải là một chuyên gia về chính trị.

    Tại sao vậy??

    Nhiều người sẽ lý luận rằng: “tôi viết để đưa tin, để tố cáo những việc làm sai phạm của chính quyền, viết để thức tỉnh công chúng hoài nghi về những nền tảng lý luận ở nước ta, chứ không nhằm mục đích khuyến học”. “Tôi viết chủ yếu cho học sinh, sinh viên, lao động phổ thông và những người có khả năng nhận thức hạn chế” v.v…”Tôi viết để vận động công dân tham gia hành động, ví dụ như áp dụng các phương pháp của Gene Sharp, để tuyên truyền thực hành xã hội dân sự, chứ không quan tâm đến lý thuyết”

    Tuy nhiên, ngay cả việc khẳng định nhà nước, tổ chức hay cá nhân làm SAI hay ĐÚNG, cũng cần phải dựa trên cơ sở lý thuyết, một học thuyết hay triết lý nào đó thuộc về THCT. Để bác bỏ một nền tảng lý luận thì càng cần phải nghiên cứu kỹ các loại nền tảng lý luận khác nhau, mà THCT và XHHCT cung cấp. Để phê phán một bộ luật nào đó tồi tệ, người viết cũng cần phải biết về THCT bởi đó là cơ sở xây dựng nên các bộ luật. XHHCT cung cấp nền tảng kiến thức và các case study để phân tích khi nào thì điều kiện xã hội đủ chín để có thể xảy ra sự kiện gì. Hơn nữa, muốn thuyết giảng về bất kỳ vấn đề gì, chúng ta cần phải hiểu sâu hơn độc giả về lĩnh vực đó. Do vậy, cần phải có kiến thức sâu về chuyên môn.

    Thay đổi một cơ chế tồi là cần thiết nhưng để đảm bảo cho cơ chế mới hoạt động tốt và lâu dài, rất cần các chuyên gia để vận hành nó và để đào tạo đội ngũ kế cận. Cụ thể là cần các chuyên gia về THCT và XHHCT. Và như vậy KHUYẾN HỌC CHÍNH TRỊ quan trọng hơn PHỔ BIẾN TIN TỨC CHÍNH TRỊ. Bản thân là người từng có thời gian tham gia một vài hoạt động chính trị trên mạng, tôi nhận thấy nhu cầu tìm hiểu, nghiên cứu về chính trị của học sinh, sinh viên, trí thức là có thật. Tuy nhiên, họ không biết đọc cái gì, ở đâu, ngoài các sách best sellers, kiểu như “Bàn về tự do”, “Đường về nô lệ”, “Xã hội mở và kẻ thù của nó”, sách nhập môn và các bài phân tích trên Internet. Họ không hiểu được rằng, loại tài liệu này không giúp họ nâng cao hiểu biết về chính trị.

    Đây chỉ là ví dụ về lĩnh vực chính trị. Trong rất nhiều lĩnh vực khác như văn hóa, giáo dục, xã hội học, khoa học quản lý, triết học, truyền thông, và nhiều lĩnh vực KHNV…các chuyên gia phổ biến kiến thức, “chuyên gia” google dường như vẫn chiếm đa số và chiếm nhiều vị trí quan trọng trên các vũ đài của truyền thông đại chúng. Các cuộc tranh luận trên các forum, tòa báo về các vấn đề văn hóa, xã hội nói chung (chứ không chỉ chính trị), thường chết yểu, và không mang ý nghĩa khuyến học, bởi lẽ những người khởi xướng lẫn những người tham gia thường không có kiến thức chuyên môn, chỉ phát biểu dựa trên trực giác, chứng cứ lấy sách phổ biến tri thức và Internet, và không khuyến khích người khác đọc tài liệu chuyên môn. Trong quá trình thảo luận, gặp cái gì mới chưa biết thì google. Điều này khiến cho những người tham gia và các độc giả theo dõi có cảm giác rằng chỉ cần đọc các sách phổ biến tri thức và trở thành “chuyên gia” google là đủ.

    Tôi biết một trí thức nổi tiếng, người từng viết một vài cuốn sách bán khá chạy bàn về tư duy trong kinh tế, quản lý, triết học, xã hội học. Ông thực sự là một tài năng, với tầm nhìn xa, kiến thức rộng và kỹ năng phân tích sắc sảo. Tiếc rằng sách của ông thể hiện rằng loại tài liệu ông đọc chủ yếu là sách phổ biến tri thức, bởi lẽ đa phần những ý tưởng hay của ông là “phát minh lại cái bánh xe” và cũng chỉ nêu được một phần rất nhỏ của “cái bánh xe”. (Điều này dễ hiểu bởi lẽ một ý tưởng hoàn chỉnh được đưa vào các sách chuyên môn thường được nghiên cứu và phát triển bởi nhiều học giả và thậm chí được nghiên cứu trong thời gian dài). Ông chưa đọc sách chuyên môn để có thể “đứng lên vai người khổng lồ”.

    Một nhà báo chuyên viết về chính trị nói với tôi rằng báo chí là sản phẩm rất đặc thù quốc gia. Tôi cũng đồng ý rằng trong bối cảnh cơ hội tham quan, du học quốc tế vẫn còn nhiều khó khăn, việc trình bày kết cấu, văn phong theo chuẩn của các hãng truyền thông lớn không phải là điều quá quan trọng. Và một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của nhà báo là xuống cơ sở lấy tin chứ không phải chỉ ngồi một chỗ phân tích và bình luận. Tuy nhiên, tôi tin rằng nhiều nhà báo giỏi của thế giới, chẳng hạn như Thomas Friedman, cũng phải nghiên cứu rất kỹ các sách kinh tế chuyên ngành để viết được những cuốn best sellers như Thế giới Phẳng hay Chiếc Lexus và cây Oliu. Thiết nghĩ các cây bút chính trị cũng nên mang tinh thần như ấy, có kiến thức càng sâu càng tốt về lĩnh vực mình viết. Các kiến thức chuyên ngành sẽ giúp họ nhìn nhận mỗi sự việc/hiện tượng một cách đa chiều, đầy đủ và sâu sắc hơn.

    Trong phần phụ lục kèm theo bài viết này, tôi giới thiệu về một số tài liệu tham khảo dành cho những độc giả muốn tìm hiểu về THCT và XHHCT. Có nhiều người e ngại rằng các tài liệu này quá khó để tự học. Điều đấy là sai. Triết học và lý thuyết xã hội học không quá khó, tuy rằng để tự học thì cũng cần đến sự kiên trì và nỗ lực nhất định. Ngay cả với những người dự định tham gia những khóa học chính quy thì việc tìm hiểu trước về ngành mình học cũng rất có ý nghĩa bởi điều này giúp họ tự rèn luyện thói quen học tập, nghiên cứu, và chọn được đúng chuyên ngành mình yêu thích, đỡ mất thời gian và công sức cho việc đổi ngành do chọn sai.


    b) Xây KIM TỰ THÁP

    Đến đây, chúng ta nên thống nhất với nhau rằng Sách Phổ Biến Tri Thức chỉ có tác dụng tạo cảm hứng ban đầu, là loại công cụ chủ yếu dùng để xây QUẢNG TRƯỜNG chứ không giúp ích gì nhiều để xây KIM TỰ THÁP. Có rất nhiều loại sách phổ biến tri thức thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, mỗi cá nhân không nhất thiết phải học hết, mà nên để nhiều thì giờ phát triển một chuyên môn thật giỏi thì mới thực sự hữu ích cho xã hội.

    Có hai cách để trở thành CHUYÊN GIA: (i) Tham gia các khóa học. (ii) Tự học. Cách thứ hai thường vất vả hơn, đòi hỏi nhiều nỗ lực hơn và thông thường cần có sự khuyến khích, động viên, chỉ dẫn của các chuyên gia. Nhưng ngay cả cách thứ nhất, thì sau các khóa học người ta vẫn phải tiếp tục tự học suốt đời để đảm bảo theo kịp thời đại.

    Ở các quốc gia phát triển, sự tham gia của các chuyên gia về KHXH & NV trên các diễn đàn đại chúng vô cùng quan trọng bởi đấy chính là một cách tôn vinh việc học và địch hướng học tập đối với công chúng, do đặc thù gần gũi, dễ tiếp cận với công chúng của các ngành này. Việc nhiều nhà khoa học thuộc các lĩnh vực KHTN & KT ở nước ta đạt được nhiều địa vị và thành tích cao trên đấu trường quốc tế khiến cho KHXH & NV dường như bị lép vế. Tuy nhiên, không nên để cho điều này cản trở sự tham gia của các nhà KHXH & NV vào công cuộc khuyến học. Tôi không có ý nói rằng các nhà khoa học KHTN & KT phải giảm bớt các hoạt động khuyến học hoặc không được lấn sân các ngành nghề khác. Trong bối cảnh thiếu thốn chuyên gia trên mọi lĩnh vực như hiện nay, sự tham gia của các vị ấy rất quý và hi vọng họ sẽ tiếp tục đóng góp nhiều hơn trong mọi lĩnh vực mà họ tâm huyết. Ý tôi là, thông thường một học giả khuyến học đúng ngành nghề chuyên môn có hiệu quả cao hơn bởi lẽ khuyến học không chỉ hàm nghĩa phổ biến tri thức mà còn bao gồm giới thiệu về chuyên ngành, truyền cảm hứng và kinh nghiệm vượt khó, gợi ý tài liệu và chỉ dẫn phương pháp học tập và nghiên cứu.

    Sự thiếu vắng của các chuyên gia, đặc biệt là các chuyên gia giỏi, và cơ hội tham gia các khóa học tiên tiến, cơ hội du học khiến cho việc học trở nên khó khăn hơn nhiều. Có những lĩnh vực như triết học và xã hội học là nền tảng quan trọng cho rất nhiều ngành KHXH & NV nhưng số lượng chuyên gia hiện có vô cùng ít ỏi. Giải pháp cho vấn đề này không đơn giản. Nhiều khi mỗi học sinh, sinh viên và trí thức cần phải tự vấn “Nếu không phải là mình thì ai sẽ là chuyên gia trong lĩnh vực này?” để có thêm động lực và quyết tâm tìm kiếm cơ hội học tập và tự học.

    Nền triết học yếu kém và chỉ tập trung đầu tư và phổ triết học Marx-Lenin đang là trở ngại lớn cho việc khuyến học ở Việt nam nói riêng và sự phát triển của VN nói chung.

    Theo thống kê năm 2011-2012 của tổ chức ETS về điểm thi GRE (3), là một điểm thi chuẩn để chọn đầu vào cao học của đa số ngành ở Mỹ, triết học là một trong những ngành đòi hỏi chất lượng sinh viên cao nhất (với điểm trung bình của thí sinh đối với hai môn Ngôn ngữ (Verbal) và Viết Phân tích (Analytical Writing) là cao nhất trong tất cả các ngành, còn môn Định lượng (Quantitative) cũng khá cao, tương đương với Khoa học Sinh học và Kế toán). Triết học cũng giành được vị trí trọng vọng ở nhiều cường quốc giáo dục châu Âu như Đức, Pháp. Trong bài viết “Tầm quan trọng của Triết học và tư tưởng” (4), tôi đã nêu vai trò không thể thiếu của Triết học đối với một quốc gia. Giống như toán học là công cụ không thể thiếu đối với nhiều ngành KHTN&KT, triết học cung cấp những công cụ và lý thuyết nền tảng cho rất nhiều ngành, đặc biệt là KHXH & NV. Triết học còn là môn học tốt nhất để rèn luyện tư duy khái quát và tư duy hoài nghi, thứ tư duy tối quan trọng để học tập và sáng tạo, bởi lẽ phương châm xuyên suốt của môn học này là không được coi điều gì là chân lý vĩnh viễn. Triết học còn là nền tảng để giáo dục công dân bởi nó cung cấp những triết lý sống, triết lý học tập và những nguyên tắc xử lý mối quan hệ giữa người với người, giữa cá nhân với tổ chức và chính quyền.

    Trong khi đó ở Việt nam, theo thống kê năm 2012 của trường ĐHKHXH & NV TP.HCM, điểm đầu vào đại học khoa triết là thấp nhất trong tất cả các ngành, cả ở khối A và C. Hơn 90% nhà nghiên cứu ở Việt nam và đại đa số dự án đầu tư vào triết học là dành cho triết học Marx Lenin. Một số hiếm hoi các tài liệu triết học được phổ biến ở VN hầu hết là các tài liệu nhập môn và tài liệu triết học kinh điển. Các thông tin về các tài liệu, hội thảo liên quan đến triết học hiện đại, thứ triết học phục vụ trực tiếp để xây dựng luật pháp và xã hội ở các quốc gia văn minh vô cùng thiếu vắng. Hi vọng, rằng sau khi đọc bài viết này sẽ có một số độc giả quan tâm hơn đến học tập và nghiên cứu triết học.


    3) Dịch thuật

    Tôi cũng đồng ý với ý kiến cho rằng dịch thuật giữ vai trò quan trọng trong việc khuyến học và nâng cao dân trí. Cần có các dự án dịch sách phổ biến tri thức để nâng tầm hiểu biết của toàn dân. Tuy nhiên, như trên đã khẳng định, sách phổ biến tri thức không giúp đỡ nhiều cho việc xây KIM TỰ THÁP. Để phát triển được đội ngũ trí thức hùng mạnh, chuyên gia của mỗi ngành cần phải tự tiến cử một số sách chuyên sâu cần dịch và vận động nhà nước và tư nhân đầu tư vào các dự án dịch thuật cho cộng đồng.

    Tuy nhiên, dịch thuật chỉ là một phần của vấn đề. Thư viện quốc gia, thư viện các trường, Internet và các hiệu sách hiện nay có rất nhiều sách, tài liệu chuyên môn đủ loại, nhưng số lượng độc giả vẫn rất nhỏ. Học sinh, sinh viên VN vẫn được tiếng là thụ động, khả năng tự học, nghiên cứu và sáng tạo đều kém, và ngay cả nhiều người muốn học cũng không biết nên đọc tài liệu gì, ở đâu, có một nguyên nhân chính là quá thiếu chuyên gia tham gia vào quá trình khuyến học.

    Mặt khác, tôi cho rằng khuyến khích đầu tư cho việc học ngoại ngữ để tự đọc sách chuyên môn cũng quan trọng chẳng kém việc đầu tư vào dịch thuật, bởi lẽ số lượng tài liệu chuyên môn cho mỗi chuyên ngành vô cùng lớn, không quốc gia nào có thể đầu tư dịch được một phần đáng kể. Trong số học giả, nhà tư tưởng gốc Á đạt đến các vị trí hàng đầu thế giới thế kỷ 20, 21, nhiều nhất có lẽ là người Ấn độ. Ngoài những tên tuổi đã trở nên quá quen thuộc như Tagore, Krishnamurti, Osho, Gandhi, Sen, Zakaria, khảo sát 30 khoa triết hàng đầu của Mỹ cho thấy số lượng giáo sư người gốc Á, Phi là rất nhỏ và trong số lượng nhỏ nhoi ấy người Ấn cũng chiếm đại đa số. Tôi tin rằng một yếu tố quan trọng đóng góp vào kỳ tích này là việc tiếng Anh trở thành ngôn ngữ chính trong các trường phổ thông ở Ấn độ và trẻ em Ấn có cơ hội học trực tiếp từ nguồn tài liệu tiếng Anh khổng lồ.


    4) Tôn vinh giá trị của học tập

    Tôi cho rằng, để tôn vinh giá trị của việc học, cần nhanh chóng cải cách giáo dục theo các mô hình tiên tiến của phương tây, đặc biệt là đưa triết học vào giảng dạy từ bậc phổ thông cả trong môn triết học và giáo dục công dân. Ngoài ra cần khuyến khích các chuyên gia thuộc nhiều ngành nghề tham gia khuyến học. Cần tổ chức nhiều thảo luận về ý nghĩa cuộc sống, giá trị cá nhân, cái tôi và sự tôn trọng, giá trị của việc học, định nghĩa về hạnh phúc và thành công, với sự chủ tọa/khởi xướng và dẫn dắt của các chuyên gia triết học và xã hội học ở cả trường học và ngoài xã hội (thông qua truyền thông đại chúng).

    Trước đây đã có nhiều cuộc thảo luận như vậy nhưng ý nghĩa khuyến học thấp bởi nhiều khi người chủ tọa/khởi xướng cho đến những người tranh luận đều không đọc các tài liệu chuyên môn. Bây giờ, có thể tổ chức các thảo luận theo cách khác. Người khởi xướng (nên là một chuyên gia về triết học và xã hội học) công khai danh sách một số tài liệu cần đọc trước đó một vài ngày trên phương tiện truyền thông. Một số học sinh, sinh viên được mời là những người tranh biện chính, sẽ đọc các tài liệu và chuẩn bị trước các ý kiến. Công chúng cũng được tự do tham gia với tư cách là những người tranh biện tự do. Nhiều tài liệu triết học và xã hội học chuyên sâu cho chúng ta những kiến thức tổng quan đã được nhiều học giả trên thế giới tổng hợp và nghiên cứu, những góc nhìn đặc sắc và dễ gây tranh cãi, và cả những lập luận, những logic bất thường nhưng đầy tính khoa học sẽ mang đến cho các cuộc thảo luận nhiều ý nghĩa. Các tài liệu này cũng cung cấp cho các chuyên gia những công cụ lý luận sắc bén để bảo vệ các mục tiêu nghề nghiệp của mình. Trong phần phụ lục ở cuối bài, tôi gửi kèm theo một số tài liệu triết học về những vấn đề này.

    Ngoài ra, mỗi trường phổ thông và đại học có thể lập ra các giải thưởng cho những tấm gương tự học đã đạt được những thành tích hoặc làm ra những sản phẩm nhất định. Học sinh, sinh viên của trường sẽ chính là những người đề cử các cá nhân xuất sắc này, bởi hơn ai hết các em hiểu rõ những nỗ lực của bạn mình, tuy rằng sản phẩm của người được đề cử (công trình nghiên cứu, tổng hợp hoặc sáng tác) sẽ do hội đồng chuyên môn thẩm định chất lượng.

    Nhưng quan trọng hơn cả là lãnh đạo nhà nước, lãnh đạo bộ giáo dục cần phải quyết tâm thay đổi cơ chế quản lý để những người thực học có cơ hội cống hiến cho xã hội. Lãnh đạo đảng và nhà nước cần cương quyết từ bỏ quan điểm tôn vinh triết học Marx Lenin, đầu tư mạnh vào việc nghiên cứu và phổ biến một nền triết học đa dạng ở Việt nam.

    Nguyễn Kiều Dung
    Nghiên cứu sinh Kinh tế và Triết học

    =====================
    (*) Thomas Sowell: Trí thức là người (i) có liên hệ với các ý tưởng và các lý thuyết trừu tượng; (ii) mà với ngành của mình (ví dụ triết học, phê bình văn học, xã hội học, luật, phân tích chính trị, khoa học lý thuyết v.v.) tạo ra và truyền bá các ý tưởng mới (iii) hoặc với kiến thức sâu rộng về văn hóa nghệ thuật đã làm cho tiếng nói của họ có ảnh hưởng trong công chúng.
    TÀI LIỆU THAM KHẢO
    (1) Nhật Bản: mặt trời mọc từ những trang sách.
    http://vietnamnet.vn/vn/van-hoa/72043/nhat-ban--mat-troi-moc-tu-nhung-trang-sach.html
    (2) Phản hồi giáo sư Hoàng Tụy về Cải cách giáo dục.
    http://vietphd.org/forum/showthread.php?t=8177
    (3) GRE – Guide to the use of scores. 2012-2013
    http://www.ets.org/gre
    (4) Tầm quan trọng của Triết học và Tư tưởng
    http://www.vietphd.org/forum/showthread.php?t=6803
     
    Last edited by a moderator: Nov 30, 2012
    foxvn and GGT like this.
  2. Nkd

    Nkd Viên mãn

    Phần này tôi viết chủ yếu về Triết học Chính trị nhưng cũng giới thiệu về một số chủ đề triết học dùng cho bộ môn Giáo dục Công dân và Xã hội học Chính trị.

    Triết học Chính trị là một trong những nền tảng quan trọng nhất để xây dựng luật pháp và xử lý các vấn đề giữa nhà nước và công dân. Hai chủ đề trọng tâm của môn học này là Tự do (Liberty) và Công bằng (Justice), cũng đồng thời là những chủ đề có rất nhiều ứng dụng trong nhiều lĩnh vực của KHXH và NV, và đời sống thực tiễn. Các loại hình dân chủ được xây dựng chủ yếu trên nền của hai chủ đề này. Độc giả có thể tìm hiểu về các chủ đề này trong Stanford Encyclopedia of Philosophy.

    Stanford Encyclopedia of Philosophy (SEP) là một nguồn tài liệu tuyệt vời để học và nghiên cứu triết học. Đây có lẽ là dự án triết học lớn nhất thế giới hiện nay do trường đại học Stanford chủ trì với sự tham gia của các triết gia và giáo sư triết học hàng đầu trên thế giới ở hầu hết các chuyên ngành và chủ đề triết học. Các giáo sư tôi biết đều gợi ý phải tham khảo SEP trước khi muốn nghiên cứu bất kỳ chủ đề gì. Đối với độc giả chỉ có ý định đọc để nâng cao kiến thức chứ không có ý định nghiên cứu ở bậc nghiên cứu sinh, SEP cũng là nguồn tài liệu tối quan trọng để học tập.

    Mỗi đề mục của SEP đều có bài giới thiệu tổng quan và cuối cùng là danh sách các tài liệu tham khảo đi kèm. Đối với mỗi chủ đề ví dụ như Tự do và Công bằng chỉ cần đọc khoảng một nửa số tài liệu tham khảo đó thì cũng có thể trở thành một chuyên gia về triết học chính trị. Một nguồn quan trọng nữa về triết học là: http://philpapers.org/. Để tìm hiểu thêm về các tài liệu cho một khóa học hoàn chỉnh về THCT và XHHCT thì có thể tìm kiếm các giáo trình (syllabus) trên Internet. Dưới đây tôi cũng giới thiệu một số giáo trình như vậy của các trường đại học lớn. Các thành viên của mạng Vietphd.org có thể giúp đỡ download các tài liệu cần đọc nếu như bạn gặp không có quyền truy cập vào các site có chứa tài liệu.

    Để đọc các tài liệu kể trên chỉ cần có trình độ đại học ở một lĩnh vực nào đó, không nhất thiết là triết học và xã hội học. Ở các nước phương tây, các tài liệu này thường được đưa vào giảng dạy ở chương trình cao học. Tuy nhiên, nhiều trường đại học danh tiếng đã đưa một số tài liệu này vào chương trình giảng dạy cho sinh viên các năm cuối đại học.

    Các tài liệu này đều không quá khó để tự học. Tuy nhiên chúng khô khan, buồn tẻ và có độ khó nhất định, không được viết bởi văn phong mượt mà, trau truốt như trong các bài báo phổ biến tri thức, không nhiều ý tưởng hấp dẫn như các sách best-sellers. Thông thường phải mất vài ngày có khi đến hàng tuần mới đọc xong một bài báo khoảng chục trang. Nhưng việc học bao giờ cũng là khổ luyện. Đọc các bài báo này là khó khăn chung đối với tất cả mọi người chứ không riêng ai cả. Vượt qua 5-7 bài báo đầu tiên, ta sẽ thấy việc đọc trở nên dễ dàng hơn và trở thành thói quen. Tùy theo quỹ thời gian rỗi của mỗi người, việc trở thành chuyên gia của một lĩnh vực này mất khoảng từ 3 tháng đến khoảng 8 tháng, nhưng bù lại ta sẽ có được vốn tri thức và kỹ năng tự tìm tòi nghiên cứu quý báu là hành trang theo ta suốt cuộc đời.

    Triết học, lý thuyết xã hội học và nhiều môn KHXH & NV là những môn không quá khó để tự học. Ở phương tây nhiều tác giả nổi tiếng là những người tự học, ví dụ Shulamith Firestone và Ayn Rand. Firestone là một họa sỹ và tốt nghiệp đại học về hội họa và làm phim. Nhưng năm 25 tuổi, bà đã tự đọc sách triết học và viết cuốn "The Dialectic of Sex: The Case for Feminist Revolution", một cuốn sách trở thành best sellers và sau này trở thành tài liệu kinh điển được nghiên cứu ở tất cả các khóa học về Philosophy of Feminism và Gender studies trên thế giới. Người thứ hai là Rand. Bà này tốt nghiệp đại học về văn chương và lịch sử. Nhưng bà đã tự nghiên cứu triết học và viết học thuyết Objectivism và nhiều bài báo về triết học chính trị rất thành công. Ở VN, do hạn chế về ngôn ngữ và nguồn tài liệu, khó có thể kỳ vọng có được những tác giả tự học giỏi như phương tây. Tuy nhiên trở thành chuyên gia tầm cỡ quốc gia là điều hoàn toàn khả thi.


    Tôi đã đọc một số sách triết học của các nhà nghiên cứu Phan Quang Định và Nguyễn Ước. Đây là các tài liệu nhập môn triết học rất hay. Tôi cũng dự định sẽ đọc một số chương trong các tác phẩm đồ sộ của Hegel và Kant do GS Bùi Văn Nam Sơn dịch. Tuy nhiên, với Triết học chính trị, tôi cho rằng cần phải nghiên cứu các tài liệu mới nhất (ví dụ các tài liệu do Stanford Encyclopedia of Philosophy giới thiệu) bởi đó là các tài liệu nền tảng để xây dựng các xã hội văn minh phương tây ngày nay. Hegel, Kant và nhiều nhà tư tưởng nổi tiếng trong lịch sử đều có nhiều ý tưởng quan trọng về triết học chính trị. Tuy nhiên các quan điểm đó đã được nhiều học giả gần đây đây phân tích, phê phán, sửa đổi và hoàn thiện để phù hợp với thời đại hiện nay.



    Dưới đây là một số nguồn tài liệu tham khảo:

    1) TRIẾT HỌC CHÍNH TRỊ

    a) Stanford Encyclopedia of Philosophy

    + Equality, Justice,

    http://plato.stanford.edu/entries/equality/
    http://plato.stanford.edu/entries/justice-transitional/
    http://plato.stanford.edu/entries/justice-distributive/
    http://plato.stanford.edu/entries/justice-intergenerational/
    http://plato.stanford.edu/entries/justice-virtue/

    + Liberty

    http://plato.stanford.edu/entries/liberty-positive-negative/
    http://plato.stanford.edu/entries/liberalism/
    http://plato.stanford.edu/entries/libertarianism/
    http://plato.stanford.edu/entries/freedom-speech/
    http://plato.stanford.edu/entries/freewill/

    b) Syllabi for Political philosophy
    Cambridge, MIT

    http://www.phil.cam.ac.uk/u_grads/Tripos/Political_Phil/Reading_List/PHIRL_IB07.pdf
    http://www.core.org.cn/OcwWeb/Polit...ship-and-PluralismFall2003/Syllabus/index.htm

    2) GIÁO DỤC CÔNG DÂN

    Meaning of Life, and Value of Knowledge, respect, happiness, existentialism

    http://plato.stanford.edu/entries/life-meaning/
    http://plato.stanford.edu/entries/knowledge-value/
    http://plato.stanford.edu/entries/wisdom/
    http://plato.stanford.edu/entries/respect/
    http://plato.stanford.edu/entries/happiness/
    http://plato.stanford.edu/entries/existentialism/

    3) XÃ HỘI HỌC CHÍNH TRỊ

    a) General courses
    Oxford, Berkeley and Rutgers

    http://users.ox.ac.uk/~nuff0084/gradpolsocreading.pdf
    http://www.rci.rutgers.edu/~pmclean/grad polsoc syllabus spring2006.htm
    http://burawoy.berkeley.edu/syllabus/280C.pdf

    b) Civil Society & Social Movement
    Harvard, MIT, Chicago, UCSC

    http://www.hks.harvard.edu/saguaro/...mmunityBuilding_PrincetonOnlineSyllabus03.pdf
    http://ocw.mit.edu/courses/politica...n-comparative-perspective-fall-2004/readings/
    http://home.uchicago.edu/~chslee/Sociology of Civil Society_Syllabus_Winter2012.pdf
    http://ic.ucsc.edu/~rlipsch/Pol190x/Politics 190X.pdf
    http://ocw.mit.edu/courses/urban-st...-international-experience-fall-2002/readings/
     
    Last edited by a moderator: Nov 30, 2012
    foxvn and GGT like this.
  3. Nkd

    Nkd Viên mãn

    Một số người có thể e ngại các môn học này là nhạy cảm?

    Thực ra các môn học này không có gì là nhạy cảm. Triết học chính trị là môn học bắt buộc ở hầu hết các chương trình cao học về luật và khoa học chính trị ở phương tây. Mặc dù ở VN, khoa học chính trị ở phương tây không được khuyến khích nhưng sinh viên cao học luật về nước rất được trân trọng.

    THCT và XHHCT còn là môn học tự chọn của rất nhiều ngành học: xã hội học, tâm lý, giáo dục, quan hệ quốc tế, khoa học quản lý, hành chính công, báo chí và rất nhiều ngành thuộc khoa học nhân văn ở các nước phương tây.

    Chỉ có điều là ở VN rất thiếu các chuyên gia chuyên về các lĩnh vực này. Các sinh viên luật được học về môn này nhưng họ khai thác và ứng dụng chủ yếu để xây dựng các văn bản pháp luật và xử lý tòa án. Tuy nhiên rất nhiều vụ việc luật pháp xử lý không hợp lòng dân là do luật sư và tòa án của VN trình độ còn kém, trong đó phải kể đến sự yếu kém về triết học chính trị.

    Nhiều mâu thuẫn giữa nhà nước với các tổ chức và cá nhân gây nhiều bất mãn rất cần THCT, XHHCT để phân tích, nằm ngoài phạm vi phủ sóng của ngành luật.

    Đấy là chưa kể vô số vấn đề gây tranh cãi ở dưới mức luật pháp, ví dụ liên quan đến đạo đức chứ không vi phạm đạo luật nào cả, rất cần các kiến thức về THCT, XHHCT để tranh luận.
     
    Last edited by a moderator: Dec 1, 2012
  4. Nkd

    Nkd Viên mãn

    Chuyện này hơi ngoài lề một chút:

    Triết học được xếp vào khoa học nhân văn, mặc dù nó là công cụ đắc lực của KHXH và cả KHTN. Ở VN, đa phần những người mang triết học phương tây về nước thuộc giới văn chương, hoặc là những người học triết học, nhưng về nước làm công việc khảo cứu, nghĩa là phân tích, bình luận một ý tưởng, một chủ đề triết học nào đấy.

    Dĩ nhiên triết học trong văn chương hay khảo cứu cũng là một phong cách nghiên cứu triết học. Nhiều giáo sư phương tây cũng theo đuổi phong cách này.

    Tuy nhiên, như vậy thiếu hẳn đi một mảng rất quan trọng trong nghiên cứu triết học, đó là mảng phát triển tưởng mới giống như nghiên cứu ở các ngành KHXH hay KHTN. Hầu hết các triết gia lớn, giáo sư hàng đầu của thế giới đều theo đuổi việc phát triển ý tưởng mới hoặc lý thuyết mới của riêng mình.

    Và chính vì vậy, bức tranh triết học ở VN bị méo, khác hẳn với bức tranh thực về triết học của thế giới.
     
    foxvn and GGT like this.
  5. foxvn

    foxvn Insatiable

    Em nghĩ nguyên tắc tiên quyết để phát triển ý tưởng mới hoặc lý thuyết mới thì học giả hay triết gia phải nắm rõ các ý tưởng hoặc lý thuyết cũ hoặc đang thịnh hành. Trong triết học nói chung và KHXH nói riêng thì rất khó có chỗ cho sự tình cờ phát minh hay tinh thần sáng tạo.

    Việt Nam mới chỉ tiếp cận với Hiện đại - modernity - (một cách thiếu hoàn chỉnh) từ khi người Pháp sang đặt chế độ thuộc địa. Chủ trương gọi là hiện đại hóa và công nghiệp hóa được áp dụng khi chúng ta tuyên bố độc lập và bắt đâu xây dựng xã hội mới năm 1945. Chiến tranh lâu dài không để cho chúng ta được yên. Do hạn chế về trình độ, do đòi hỏi cấp bách để có những nhảy vọt, và do nhiều thứ nữa, ta chắc là đã phải đi tắt, với sự vội vàng, khá nhiều. Sự hiện đại hóa do đó đầy những méo mó và chắp vá, chưa kể vẫn bị Truyền thống (tradition) đeo bám lẵng nhẵng phía sau. Tóm lại, gần như ta đã không đi lên theo thứ tự và từ nền tảng chung mà các xã hội phương Tây (theo tư bản chủ nghĩa) đã theo. Trong khi người ta đoạn tuyệt được với Truyền thống và đang đi vào hậu Hiện đại, thì ta vẫn đang phải dựa vào Truyền thống. Nhưng mà giờ đây, như ý kiến của chị nêu, ta lại phải hòa nhập với họ, trở nên giống họ, kể cả về lĩnh vực phát triển triết học và KHXH.

    Làm thế nào để dung hòa hai điều gần như trái ngược trên?
     
    Nkd likes this.
  6. Nkd

    Nkd Viên mãn

    Ngành nào cũng phải đọc lại các lý thuyết cũ, ngành nào cũng phải review literature mà.

    VN có phát minh gì lớn ngành IT đâu nhưng nhiều người theo học IT ở nước ngoài rất tốt, trở thành các giáo sư tầm cỡ. Họ cũng thoải mái đem các chương trình tiên tiến nhất về VN giảng dạy.

    Triết học phương tây không phổ biến được vì không được chấp nhận ở VN. Mặc dù nếu tự học, tự nghiên cứu đọc sách tiếng Anh thì không có vấn đề gì.

    Nhà nước vẫn chủ trương triết học Marx-Lenin thôi. Giờ phải vứt bỏ cái đống đấy đi thì mới khá lên được.
     
    GGT and foxvn like this.
  7. foxvn

    foxvn Insatiable

    Có một cái rất oái ăm ở các nước Đông Nam Á là Hiện đại (modernity) vốn gần như thắng lợi ở khắp mọi nơi, lại bị kìm hãm. Rất nhiều nước Đông Nam Á bây giờ vẫn loay hoay giữa hiện đại và truyền thống. Dựa vào quan điểm cho rằng duy trì truyền thống có lợi cho việc xây dựng nhà nước-dân tộc, bảo vệ bản sắc văn hóa, tạo ra cố kết xã hội và tránh xung đột, nhiều nơi vẫn ca ngợi các giá trị của truyền thống. Truyền thống là cái mà một xã hội đã có trước khi nó bị biến đổi bởi Hiện đại. Nhiều nước Đông Nam Á đã không chọn cho mình việc phải biến đổi hoàn toàn bởi Hiện đại.

    Trong "cái đống" phải vứt bỏ như chị nói đấy theo em phải bao gồm cả Truyền thống. Bỏ hết, và Hiện đại triệt để vào thì mới bứt phá được!

    Tất nhiên, ta sẽ bị chất vấn là Hiện đại triệt để có phải có nghĩa là Phương Tây hóa (tư bản chủ nghĩa hóa) triệt để không?
     
    Nkd and GGT like this.
  8. Nkd

    Nkd Viên mãn

    Không phải là vứt bỏ hoàn toàn, triết học Marx-lenin là một bộ phận của triết học đương đại. Nhưng các nước dân chủ không dùng nó nhưng vẫn nghiên cứu nó.

    Đính chính một chút: ngành khoa học chính trị coi Triết học chính trị là một trong 3 trọng tâm của ngành (cùng với Chính trị so sánh và Chính trị quốc tế). Ngành Luật thì thường phải học Justice và Property là hai mảng lớn trong Triết học chính trị, mặc dù không học toàn bộ THCT.

    Một ngành nữa là Xã hội học thì có môn Lý thuyết xã hội học có nền tảng là triết học phương tây. Trước đây mình cũng dự thính một lớp về xã hội học chính trị và một lớp về lý thuyết xã hội học. Trong lý thuyết về xã hội học chủ yếu là học về công trình của các triết gia như Marx, Habermas và trường phái Frankfurt.v.v...Về lý thuyết xã hội học thì Marx vẫn là một trong những trụ cột quan trọng nhất.

    Ở VN có GS Đặng Ngọc Dinh, viện trưởng viện khoa học xã hội là trưởng nhóm nghiên cứu về Xã hội Dân sự. Ở VN xã hội dân sự vẫn được nghiên cứu, mặc dù không được phép phổ biến. Thế nên ai muốn nghiên cứu xã hội dân sự một cách nghiêm túc thì vẫn được.
     
    Last edited by a moderator: Dec 5, 2012
  9. foxvn

    foxvn Insatiable

    Nếu tìm kiếm cụm từ "xã hội dân sự" thì cũng thấy khá nhiều nghiên cứu và bàn luận bởi các học giả trong nước. Tuy thế, thường các nghiên cứu mới chỉ khiến người đọc hiểu rõ hơn về mặt khái niệm của cụm từ này, hoặc có một vài khuyến nghị với nhà nước. Thiếu vắng nhiều nhất là những nhận xét, bình luận và phán đoán về tình hình hiện tại và xu thế của hình mẫu này ở trong nước. Nói cách khác, tin buồn là chả có gì cho bè bạn là các học giả KHXH quốc tế để trích dẫn đâu!

    Tình trạng này là phổ biến trong giới KHXH trong nước. Cách đây 8 năm, trong một lần đi dự hội thảo Vietnam học ở nước ngoài thì có mọt học giả Úc có nói với tôi rằng đọc các công trình nghiên cứu của các học giả trong nước rất là chán, ai cũng nói giống nhau và giống... chính phủ. Năm nay, trước thềm Hội thảo Việt Nam học tổ chức trong nước, một học giả Úc khác cũng phàn nàn đại ý là các học giả Trung Quốc khá thoải mái thể hiện các suy nghĩ (insights), kể cả là chỉ trích chính phủ nếu họ thấy có gì đó sai (vấn đề đường lưỡi Bò chẳng hạn). Trong khi đó các học giả Việt Nam, dù không thiếu những cái đầu giỏi giang, lại không có phát biểu được câu gì có thể trích dẫn được! Và học giả Úc này kết luận đó là một sự xấu hổ!

    Càng không được trích dẫn, dù từ bản ngữ, các học giả KHXH của chúng ta sẽ càng không được biết đến trên lĩnh vực học thuật quốc tế. Ít được biết đến thì các ít nhận được sự ủng hộ. Như thế, họ sẽ đóng góp thế nào trên phương diện cũng là các chiến sĩ đấu tranh vì sự toàn vẹn lãnh thổ, vì lợi ích của quốc gia, và vì niềm tự hào của trí tuệ Việt?
     
  10. Nkd

    Nkd Viên mãn

    Chị cũng nghĩ các học giả Trung Quốc dám chê chính phủ là 1 sự tiến bộ đáng kinh ngạc. Không phải người VN không dám chê và không có những ý kiến sắc sảo. Xem BBC, RFA thiếu gì ý kiến hay. Có điều những người này không phải là các học giả KHXH đương chức. Cũng không hẳn là họ hoàn toàn kém, mặc dù 1 phần là như vậy. Có lẽ chủ yếu vì họ quá sợ mất ghế.

    Có lẽ sự thăng tiến ở VN vẫn mang tính chính trị nặng nề hơn Trung Quốc.
     
    foxvn likes this.
  11. Nkd

    Nkd Viên mãn

    Hôm trước tôi có đọc bài viết của GS Bùi Văn Nam Sơn "Cứ kiên trì rồi mùa hoa trái sẽ tới". Trước đó tôi cũng đọc khá nhiều bài viết khác của GS cổ vũ cho việc dịch thuật triết học.

    Quả đúng, có lẽ không môn học nào mà dịch thuật sẽ tạo ra sự khác biệt lớn để tiếp nhận tri thức như triết học. Cũng thật đáng xấu hổ, bởi một đất nước mà dân số chỉ bằng 1/3 Việt nam, năng lực tư duy của công dân có lẽ cũng không hơn người Việt là bao, nhưng họ đã chuẩn bị được kho tàng tài liệu nghiên cứu bằng tiếng bản ngữ đồ sộ như vậy. Điều đáng chú ý là công việc chuẩn bị này đã được thực hiện cách đây 40 năm. Nghĩa là dưới triều đại của nhà độc tài khét tiếng Park Chung Hee, việc dịch các tài liệu triết học phương tây vẫn được tiến hành một cách quy mô và hệ thống.

    Tôi nghĩ rằng vai trò đầu tư và khuyến khích của nhà nước đặc biệt quan trọng. Dù chê bai, chỉ trích thế nào đi nữa, chúng ta cũng cần ghi nhận tầm nhìn của Park Chung Hee trong việc phát triển khoa học kỹ thuật và văn hóa, tư tưởng ở Hàn Quốc.

    Bối cảnh VN hiện nay cũng có thể tiến hành được công việc ấy. Tôi không nghĩ rằng không thể thuyết phục các nhà lãnh đạo Việt nam đầu tư vào việc dịch thuật triết học. Quan trọng là các nhà nghiên cứu phải kiên trì thuyết phục và chỉ ra cho họ tầm quan trọng của triết học và tư tưởng đối với quốc gia.

    Cũng xin nói thêm rằng, trong khi thực hiện một số nghiên cứu của mình, tôi thật sự kinh ngạc khi thấy hầu hết các sách triết học và xã hội học mình cần (bao gồm các tài liệu quan trọng và không mấy quan trọng) đã được dịch ra tiếng Anh. Nói vậy để thấy lợi thế cực lớn giữa sinh viên Mỹ (và các nước nói tiếng Anh) so với sinh viên VN.

    Tuy nhiên, có một số lĩnh vực triết học rất quan trọng đối với quốc gia mà lại không quá khó để học bằng tiếng nước ngoài, chẳng hạn như triết học chính trị. Môn học này là bắt buộc đối với sinh viên của các ngành khoa học chính trị và khoa học chính sách. Chính phủ VN ít khi cử sinh viên đi học mấy ngành này nhưng các quốc gia khác, đặc biệt là đông âu, Mỹ latin thì số sinh viên học các ngành này rất đông.

    PS: Tôi chỉ muốn trao đổi một chút như vậy thôi. Dù biết rằng dịch thuật hết sức quan trọng, tôi cũng không có ý định làm công việc này bởi không phải là sở trường của tôi và theo đuổi ý tưởng mới khiến tôi cảm thấy hạnh phúc hơn.

    http://www.viet-studies.info/LeNgocSon_BuiVanNamSon.htm
     
    foxvn likes this.

Share This Page